Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin phong thủy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013

Học phong thủy với Dinh Tổng Thống Hoa Kỳ

Xem phong thủy - Nhà Trắng hay còn gọi là Tòa Bạch Ốc là tòa nhà quan trọng nhất của nước Mỹ. Đó là nơi ở và làm việc chính thức của Tổng thống Mỹ và các quan chức cao cấp của quốc gia, nơi người ta sẽ quyết định những vấn đề liên quan đến kế sách và vận mệnh của cả Hoa Kỳ.

Chính vì thế, người ta đã tìm thấy những mối liên hệ mật thiết giữa kết cấu Tòa Bạch Cung với những thảm họa xảy ra trên nước Mỹ trong vài thập niên trở lại đây….

Bố cục phong thủy của Tòa Bạch Ốc

Nhà Trắng được đặt tại bờ phía đông của sông Rock Creek, một nhánh nhỏ của dòng Potomac, phía nam là một quảng trường rộng còn phía bắc chính là khu Washington phồn hoa của thủ đô nước Mỹ. Vào năm 1972, nước Mỹ quyết định xây dựng Dinh Tổng thống tại Đặc khu Columbia sau khi chọn nơi này làm thủ đô Hoa Kỳ vào ngày 16 tháng 7 năm 1790. Người lựa chọn địa điểm này chính là tổng thống vĩ đại của nước Mỹ George Washington. Tuy nhiên, cho tới khi tòa nhà này được xây dựng xong vào năm 1800, thì người đến sinh sống đầu tiên tại Dinh Tổng thống không phải là George Washington mà là Tổng thống John Adams.

Tuy nhiên, kể từ đó, thủ đô Washington và Dinh Tổng thống hoa lệ không phải lúc nào cũng yên lành hưởng thái bình. Vào năm 1812, trong cuộc chiến tranh với Anh, thủ đô Washington mới được xây dựng đã bị phá hủy một cách nghiêm trọng. Dinh Tổng thống cũng bị binh lính Anh dùng lửa đốt rụi, chỉ còn lại những bức tường chỏng chơ. Cho đến năm 1814, khi chiến tranh kết thúc, trong lúc tái thiết, người ta đã sơn màu trắng cho tất cả những phần của Dinh Tổng thống bị khói hun đen bằng màu trắng. Và cũng từ đó, Dinh Tổng thống Mỹ được gọi bằng cái tên Nhà Trắng.

Kết cấu của Nhà Trắng giống như một cây thánh giá mà chiều đông – tây thì dài còn chiều nam – bắc lại ngắn, trong đó, đầu phía bắc lại dài hơn phần phía nam, loại kết cấu này trong phong thủy gọi là “nhà khuyết góc”, tức là về mặt tổng thể, kiến trúc của tòa nhà đó thiếu đi cung Càn phía tây bắc và cung Cấn ở phía đông bắc. Hướng đông nam và tây nam cũng thiếu góc nhưng thiếu không nhiều. Cung Khảm ở hướng chính bắc mặc dù không “thiếu góc”, nhưng hướng này lại có một con đường dẫn tới, thiết kế này khiến cho hướng này cũng không hẳn tốt. Hướng đẹp nhất của tòa Bạch Cung chính là hướng nam, cung Ly. Hướng này có tầm nhìn rộng rãi, sáng sủa với một bãi cỏ rất rộng, phía xa còn có thể nhìn thấy sông. Đây chính là cung đại cát. Đáng tiếc, tại nơi đây, sau đó người ta lại cho xây dựng Đài tưởng niệm Washington.


Công trình cao 169 mét được xây dựng bằng cẩm thạch, granit này khiến hàng Bính (Bính vị) của tòa bạch ốc xuất hiện “Chu Tước ngẩng đầu”. Đây chính là điểm kìm hãm lớn nhất đối với bố cục phong thủy của Nhà Trắng. Nhìn xa về phía tây nam có một chiếc ao và một đền thờ thần Dớt. Đền thờ nằm ở phía tây nam vốn là tốt, tuy nhiên, cung khôn và cấn ở đây lại hợp thành một đường mà phong thủy gọi là “đường quỷ thần”, thêm nữa, tòa miếu lại bị bao quanh bởi chiếc ao lớn, thành ra cũng không thể nói là tốt được. 

Theo như phân tích này thì bố cục phong thủy của Nhà Trắng không phải là tốt lành gì. Vậy lý do vì sao, từ khi được thành lập đến nay, nước Mỹ ngày càng trở nên giàu mạnh? Các chuyên gia phong thủy cho rằng, nguyên nhân là vì, trong kết cấu của Nhà Trắng, có hai nơi tạo nên thế đại cát.

Thứ nhất, ở phía tây của Nhà Trắng có một dòng sông lớn, hướng dòng chảy theo chiều từ tây bắc xuống đông nam, lượng nước rất lớn. Nước ở phía tây là dấu hiệu của tiền tài, còn hàng Canh xuất hiện nước chạy, lượng lớn là dấu hiệu của tiềm lực quân sự hùng mạnh. Điều này vừa đúng với 2 đặc điểm quan trọng nhất của nước Mỹ: Dẫn đầu thế giới về kinh tế và quân sự. Điểm “đại cát” thứ hai của tòa Bạch Cung chính là lượng nước lớn nằm ở phía nam. Nếu tính từ trung tâm Nhà Trắng, thì hướng chính nam của tòa nhà này sẽ nhìn thẳng ra một ngã ba sông. Nếu như không tính tới thế “Chu tước ngẩng đầu” ở hàng Bính do Đài tưởng niệm Washing ton gây ra thì hàng ngọ và hàng đinh ở hướng nam vẫn có thể coi là phát về đường tài lộc. 

Giống như một người con gái chỉ có một nét duyên ngầm nhưng che khuất được tất cả những nét chưa hoàn hảo khác, chính vì sức mạnh của hai đặc điểm “đại cát” này đã che đi rất nhiều điểm bất lợi trong bố cục phong thủy của Nhà Trắng. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà những đặc điểm xấu này không đem lại những tai họa cho nước Mỹ.

Phong thủy lý giải những khó khăn của Hoa Kỳ

Phải nhắc đến đầu tiên chính là Đài tưởng niệm Washington. Đài tưởng niệm này xuất hiện ở hướng chính nam của bãi cỏ rộng lớn phía nam của Nhà Trắng. Nếu như dùng la bàn đo từ cửa của Nhà Trắng hoặc trung tâm của tòa nhà thì đài tưởng niệm này nằm trên cung Bính. Nếu chiếu theo năm tháng thì tương ứng với nửa cuối của năm 2001. Ai cũng biết về cuộc tấn công khủng bố diễn ra vào ngày 9 tháng 11 của năm này, khiến tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới đặt tại thành phố New York sụp đổ hoàn toàn và gần 3 nghìn người thiệt mạng. Đến nay, sự kiện này vẫn còn là một nỗi ám ảnh đối với nhiều người dân Mỹ. Tuy nhiên, ít người biết rằng, nó không hoàn toàn ngẫu nhiên.

Chưa hết, ở hướng chính đông của Đài tưởng niệm chính là tòa nhà quốc hội Mỹ. Theo phong thủy, chính đài tưởng niệm này sẽ trở thành “Bạch Hổ sát” của tòa nhà quốc hội. Thời gian phát tác của Bạch Hổ sát là vào năm Dậu, năm con gà. Nếu xét lại những sự kiện lớn xảy ra tại nước Mỹ trong 10 năm trở lại đây, có thể thấy, vào năm 2005, năm Ất Dậu, quốc hội Mỹ đã thông qua kế hoạch tấn công Iraq dẫn đến một cuộc chiến hao người tốn của và cho tới nay vẫn chưa có hồi kết.

Đến năm 2006, khi Thái Tuế vận hành đến hướng tây bắc. Như đã nói, hướng tây bắc của Nhà Trắng thiếu một góc lớn, chiếu theo phong thủy thì kết cấu Nhà Trắng thiếu đi cung Càn, đây là một điềm dữ, rất bất lợi. 

Chính vì thế, trong năm 2006, nguy cơ hàng kém chất lượng bắt đầu xuất hiện ở nước Mỹ. Đồng thời giống như một hiệu ứng domino, nó kéo dài trong suốt hơn một năm sau đó. Suy thoái kinh tế cũng bắt đầu manh nha. Đến năm 2008, phong thủy vận hành đến hướng chính bắc, cung Tý. Cung Tý hợp với núi chứ không hợp với nước. Đáng tiếc Nhà Trắng không hề dựa vào núi, chỉ là cao hơn so với nền đất một chút. Điều xấu nhất chính là có một con đường lớn dài hàng trăm kilomet chạy theo hướng chính bắc thẳng đến trung tâm của Nhà Trắng. Trong phong thủy có câu, “Đường thẳng 3 dặm ắt có ma quỷ”, huống chi con đường chạy thẳng đến trung tâm Nhà Trắng này lại dài tới hàng trăm kilomet. Điểm bất lợi mà nó gây ra cho Nhà Trắng theo đó, sẽ vô cùng khủng khiếp.


Chắc nhiều người vẫn chưa quên cuộc “Đại suy thoái” của nền kinh tế thế giới bắt nguồn từ nước Mỹ vào năm 2008. Trong năm này, tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ đã tăng từ mức 4,9% vào tháng 12 năm 2007 lên 9,5% vào tháng 6 năm 2009. Nhiều ngành kinh tế của Hoa Kỳ thu hẹp sản xuất. Ngành chế tạo ô tô bị khủng hoảng nghiêm trọng đến mức Big Three phải bán đi một số thương hiệu và chi nhánh của mình. Nhiều công ty, tập đoàn kinh tế đã phải chịu phá sản và chấp nhận tái cơ cấu dưới sự giám sát của Chính phủ. Đó là một năm thực sự kinh hoàng đối với nền kinh tế và người dân nước Mỹ. Và vào cuối năm đó, Tổng thống George Bush sau hai nhiệm kỳ giữ chức tổng thống, đã buộc phải trao trả tòa Bạch Cung cùng với một cục diện rối ren cho “người hùng” mới của nước Mỹ, vị tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ, B. Obama.

Bước sang năm 2009, vị trí của vận hành phong thủy Nhà Trắng đến hướng chính đông, hàng Sửu. Sự thiếu góc ở cung Sửu của Nhà Trắng là điều rất dễ nhận thấy. Thiếu góc, trong phong thủy gọi là “Cán dao”, ý chỉ sự đen đủi. Đây cũng chính là lý do vì sao, dù rất nỗ lực trong suốt 2 năm, 2009 và 2010 nhưng vị tổng thống mới của nước Mỹ vẫn không thể khôi phục lại được nền kinh tế đang trên đà suy thoái của nước Mỹ. Chính điều này đã biến cuộc suy thoái kinh tế trở thành một cuộc “đại suy thoái” trên toàn thế giới.

Vào năm 2011, khi phong thủy vận hành đến hướng chính đông, thì nguồn nước ở hướng tây Nhà Trắng sẽ có điều kiện phát huy tác dụng. Thêm vào đó, phía đông lại không khuyết góc như những hướng khác. Chính vì vậy, trong năm này, nền kinh tế nước Mỹ chắc chắn sẽ bước vào thời kỳ phục hồi. Kết quả của sự phục hồi ra sao vẫn chưa thể khẳng định, nhưng chắc chắn nó sẽ là một liều thuốc trợ tim mạnh đối với nền kinh tế Mỹ. Vào cuối tháng ba này, khi Tổng thống Obama xuất hiện trên truyền hình, ắt người ta sẽ không còn thấy khuôn mặt trầm tư rầu rĩ trong suốt hai năm qua nữa, thay vào đó chắc chắn là một nụ cười rạng rỡ.

Tuy nhiên, những tai họa mà tòa Bạch Cung này đem đến cho nước Mỹ do bố cục phong thủy của nó gây ra vẫn không phải đã hết. Chính quyền Mỹ chắc chắn nên lưu ý đến năm 2014, năm kỷ niệm 12 năm sự kiện ngày 9 tháng 11. Đây là thời điểm sao Thái Tuế chuyển đủ một vòng và lại ứng với hướng chính nam, nơi có Đài tưởng niệm Washington. Nhiều người cũng đã cảnh báo một tai họa sẽ đổ xuống nước Mỹ vào năm con ngựa này. Muốn tranh được đại họa, trừ khi là người ta phá bỏ hoặc di chuyển Đài tưởng niệm Washington. Tuy nhiên, ai cũng biết, điều này là không thể xảy ra.

Hải Phong ( Dịch báo chí Trung Quốc)

Posted By Unknown19:30

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Xem phong thủy: Đoán cát hung bằng địa khí và hình thế

Núi sông hữu tìnhXem phong thủy - Dân gian hay gọi “khí trời” là muốn chỉ “khí của trời” và thuật phong thủy gọi là "Thiên khí". Nó là năng lượng từ trên trời toả xuống, ảnh hưởng đến mọi sự biến hoá của không khí. Còn “khí của người” là khí phát tán từ cơ thể con người.

Người nào mà khí vượng thì sức mạnh từ người đó phát ra sẽ chủ đạo được những người và sự vật xung quanh, chúng ta hay nghe từ "khí công" hay "Nhân khí". Còn "khí" thuộc về quả đất được gọi là “địa khí”, nó là tinh khí của quả đất, chỉ năng lượng của quả đất và điểm ngưng tụ năng lượng của quả đất chính là huyệt (long huyệt).

Phong thuỷ địa lý rất coi trọng “địa khí”. Vì quả đất có một từ trường hình thành từ Bắc đến Nam, do đó có thể dùng những thiết bị vật lý để đo năng lượng “khí địa từ” và “dòng địa điện” của quả đất.

Trong địa lý phong thuỷ, người ta quan niệm “khí tạo ra hình thế, hình thế lại dẫn khí chảy theo”. Tức là địa hình được hình thành do khí tự nhiên, đến lượt khí tự nhiên lại theo địa hình đó mà lưu động. Do đó, ngoài biết “xem khí” ra còn cần phải biết “xem địa hình” hay "hình thế" Loan đầu.

Vấn đề chúng ta cần biết, mỗi người sinh ra đã có một năng lượng riêng, nếu biết vận dụng tốt sức mạnh trong thiên nhiên thì có thể sẽ phát huy sức mạnh vốn có của mình.

Điều này trong “địa lý phong thuỷ” thường nhấn mạnh “âm dương nếu giữ được điều hoà thì có thể hợp làm một”. Và thuật phong thuỷ chỉ có một mục đích là làm sao vận dụng được sức mạnh của địa khí để tăng thêm sức mạnh của con người. Có thể hiểu như sau:

Một chỗ đất có địa khí cao, nếu xây nhà ở đó thì địa khí có thể bổ sung cho những chỗ còn khiếm khuyết của nhân khí, làm sao cho người sống ở đó ít bệnh tật, ít tai nạn, đầu óc tỉnh táo. Khi trong cuộc sống, phải đứng trước một sự phán đoán hay lựa chọn thì người đó sẽ lựa chọn được những biện pháp chính xác, còn gọi là “vận tốt”.

Ngược lại, nếu không biết được hướng dòng chảy của địa khí mà hành động ngược với quy luật của nó, hoặc xây nhà vào chỗ địa khí lưu tán, thì người đó trở thành yếu đuối, sức sống và năng lực phán đoán cũng vì thế mà kém cỏi, thân thể yếu, nhiều bệnh tật. Đó là điều mà dân gian gọi là “vận hung”.

Do đó, trong quy luật tự nhiên không có sự phân chia gọi là cát hung, mà chỉ có sự phân biệt nơi nào năng lượng cao hay năng lượng thấp và phân chia thành âm dương. Cái gọi là cát hay hung chỉ là muốn nói khi người ta gặp khó khăn thì đã biết dùng biện pháp gì để đối phó.

Hay nói cách khác, địa khí đối với mọi người đều bình đẳng, điều chủ yếu là người đó có biết vận dụng nó hay không. Nói cát, tức là chỉ về người hiểu và vận dụng được địa khí, còn hung là nói người không hiểu và không vận dụng được địa khí mà còn để địa khí dần lưu tán mất.

Vậy có thể căn cứ vào địa hình để phán đoán cát hung. Trước hết, một địa hình tụ khí dễ dàng, tán khí khó gọi tượng cát. Ai cũng muốn sống ở những nơi cảm giác thoải mái và sinh hoạt thuận tiện. Song nếu thế thì những vùng rừng núi không có điện, không có nước, giao thông khó khăn sẽ không có người ở.

Hay có người muốn ở bên cạnh chỗ có nước thì cũng không dễ dàng xây nhà bên bờ sông hay bãi biển. Mọi người đều biết, có những vùng đất thích hợp với người ở và cũng có những vùng đất không thích hợp. Nếu một chỗ ở nào đó khi ở luôn gặp điều không may, hoặc muốn ở lâu cũng không được thì gọi đó là thuộc đất hung tướng.

Hoặc có chỗ nào đó, mọi người đều thích ở, không những vì giao thông thuận lợi mà còn sáng sủa, quang đãng, không khí sạch sẽ và yên tĩnh, phong cảnh dễ chịu, gần đó lại có chợ búa, cửa hàng, khu sinh hoạt văn hoá. Chỗ như vậy, ai cũng biết là vùng cát tướng. Như vậy, việc quan sát cát, hung của đất ở nói chung mọi người đều có một khả năng nhất định.

Thuật quan sát của địa lý phong thuỷ cơ bản nhất là phải phán đoán được chỗ có địa khí hay không, nếu có thì hướng dòng chảy ra sao và địa hình mặt đất như thế nào.

Hãy quan sát, hình dạng mảnh đất xây dựng hình vuông vức là tốt, nhưng nếu là hình tròn, hình tam giác thì không thích hợp cho việc xây nhà ở.

Một mảnh đất hình thang nếu mặt giáp đường hẹp, còn mặt sau rộng dần thì ở đó địa khí dễ ngưng tụ cho nên đất ấy cát tướng, ngược lại nếu phía giáp đường rộng mặt sau hẹp dần, địa hình như thế địa khí dễ bị lưu tán, thậm chí sống ở những chỗ như thế, năng lượng và sinh mệnh của người chủ kém dần, người sống trên mảnh đất này gặp nhiều điều không may, chỗ như vậy gọi là đất hung tướng.

Vùng đất cát tướng ở đây là chỗ đó địa khí có ngưng tụ hay không, ngược lại vùng đất hung tướng là chỉ địa khí ở đó không ngưng tụ mà dễ lưu tán, xây nhà ở đó dễ gặp điều trắc trở, không may.

Như vậy, địa khí có ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh của con người. Cách nói đó tuy khoa học chưa có cách gì giải thích được, nhưng đã được thực tế chứng minh, nếu xây nhà hoặc cất mộ ở những địa huyệt thích hợp thì sẽ gặp được những vận khí rất tốt và ngược lại, những điều không may mắn sẽ xảy ra. Vậy có thể nói, sức mạnh vô hình của phong thủy thật khôn lường.

Theo tapchidoanhnhan

Posted By Unknown19:30

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Xem phong thủy do thầy phong thủy Tàu yểm bùa tại làng tiến sĩ?

Ngôi mộ tổ họ Nguyễn làng Kim ĐôiPhong thủy nhàChuyện đỗ đạt làm quan của một dòng họ, một gia đình ngoài yếu tố con người, sự nỗ lực, đôi khi cũng được lý giải bằng sự phù hộ của tổ tiên.

Vì vậy khi một dòng họ đương bao đời vinh hiển bỗng chốc đi xuống, thì nguyên nhân thường được đưa ra là... phong thủy bị phá.

Chuyện long mạch của làng bị phá, hay chỉ là giai thoại

Làng tiến sĩ Kim Đôi từ trước tới nay có hai dòng họ rất phát về đường khoa cử là họ Nguyễn và họ Phạm. Dòng họ Nguyễn nối nhau làm quan trong triều được 13 đời, kể từ đó không còn ai đỗ đạt cao và làm quan to nữa. Họ Phạm cũng gặp phải trường hợp gần giống như vậy. Người dân ở đây vẫn lưu truyền câu chuyện về làng bị cắt đứt long mạch nên vượng khí bị mất.


Tương truyền rằng ở làng Gội (nay thuộc xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) trước kia có một người từng đỗ tiến sĩ và được gọi với tên là Trạng Gội. Trạng Gội khi vinh quy về làng có tổ chức một lễ mừng tạ trời đất, tổ tiên và có mời các vị cao đạo của dòng họ Nguyễn đến dự. Để cho mối quan hệ giữa hai dòng họ thêm bền chặt, các cụ nhà họ Nguyễn đã đúc một con chạch bằng vàng làm quà biếu. Nhưng không hiểu sao Trạng Gội khi đó đã hiểu rằng, món quà là sự khích bác, khinh miệt. Khi họ Nguyễn có người đỗ đạt liền sai người sang mời Trạng Gội tới chia vui. Trạng Gội không quên hiềm khích khi xưa liền đúc một quả cau xanh bằng vàng đem sang tặng. Họ Nguyễn cho rằng như thế là không phải và từ đó mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh. Hai dòng họ bắt đầu có lời qua, tiếng lại với nhau và mâu thuẫn ngày càng sâu sắc.

Đến bây giờ, các nghiên cứu nhà sử học, người cao tuổi nhiều đời của làng Kim Đôi vẫn chưa thống nhất được nguyên nhân tại sao long mạch của làng bị triệt. Người thì cho rằng từ khi vua ban cho tám chữ vàng là "Kim Đôi gia thế, chu tử mãn triều" trong triều vốn đầy thị phi đã xuất hiện nhiều đố kị, ganh ghét. Người lại cho rằng do mâu thuẫn giữa Trạng Gội với làng. Cũng vì ngầm ý muốn triệt long mạch đất Dủi Quan (tên tục làng Kim Đôi) mà Trạng Gội đã dùng kế "vị công vi tư" (lấy việc công để làm việc tư) dâng tấu biểu đề nghị nhà vua cho xẻ thân đê làm cống đúng ở vị trí long mạch của làng với lý do tiêu thoát lũ ra sông Cầu.

Biết được thâm ý, nhưng vì theo lệnh quan trên, người làng Dủi đành ngậm ngùi nhìn long mạch bị đứt. Tương truyền, con mương khi đào lên, ba tháng sau vẫn rỉ nước màu đỏ. Người dân làng Kim Đôi khi đó kháo nhau rằng thứ nước đỏ kia chính là máu của long mạch bị đứt. Cũng từ đó, người Kim Đôi dù có học rộng, hiểu sâu đến mấy cũng khó đỗ đạt cao và không còn được vinh hiển như tổ tiên mình nữa.


Ngôi mộ tổ họ Nguyễn làng Kim Đôi bên cạnh con mương thoát nước


Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Bảo, trưởng ban đại diện dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi lại có cách lý giải khác về câu chuyện này. Ông cho biết: "Đứt long mạch vốn là một câu chuyện rất khó xác định bằng khoa học. Nếu xét trên thực tế, khu đất đó là đất son đỏ nên khi nước chảy qua sẽ tạo màu như thế. Hơn nữa, việc này lại xảy ra quá lâu, thế hệ chúng tôi cũng chỉ nghe các cụ truyền lại nên thực hư không rõ thế nào". Khi mà nhiều năm không có người đỗ đạt, người dân Kim Đôi bàn nhau lấp con mương để mong có thể "hàn" được long mạch. Nhưng có vẻ chuyện này cũng không đem lại hiệu quả.

Ông Bảo cho biết thêm: "Việc "hàn" long mạch là chuyện rất khó vì chúng tôi bây giờ cũng không biết "hàn" kiểu gì vì nó chỉ là dải đất bị cắt ngang mà thôi". Thậm chí theo lời kể của ông Bảo thì khu vực được cho là bị triệt long mạch đó bây giờ đã bị san lấp khó có thể nhận ra được. Trước đây nó vốn là một cái cống thoát nước, nhưng nay người ta cho xây dựng một trạm bơm khác và chỗ đó đã được lấp đi. Chuyện "hàn" long mạch lại càng trở nên khó khăn và thiếu tính khả thi.

Thực hư về một lời “sấm truyền

Như vậy là lời sấm truyền đã thành hiện thực. Dân gian kể lại rằng, đường khoa cử của người làng Kim Đôi rộng mở, trải mấy trăm năm rồi cũng dần khép lại như lời sấm: "Bạch nhạn sinh mao anh hào tận" (Nếu bãi cát vùng Bạch nhạn còn sinh sôi thì đường hoạn lộ còn hanh thông). Tuy nhiên bãi cát đã mất, vật đổi sao dời, nên ứng vào lời “sấm truyền” xem ra có ý đáng chiêm nghiệm. Thời gian dâu bể, bãi Bạch nhạn xưa không còn xác định được chính xác địa điểm. Nhưng có điều chắc rằng, bãi cát đó đã dần thành làng mạc và khu dân cư đông đúc.

Chuyện làng Kim Đôi bị phá phong thủy, hầu như ai cũng biết và hậu quả của nó thế nào thì suốt hơn 300 năm qua người dân làng Kim Đôi tự kiểm chứng. Dòng họ Nguyễn kể từ đó không còn người đỗ đạt và làm quan to nữa. Tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhất là trong thời hiện đại cần phải có cái nhìn khác.

Theo tâm sự của ông Bảo, ngoài chuyện long mạch làng bị cắt đứt, ngôi "huyệt kết" của dòng họ cũng không còn được nguyên vẹn như xưa. Ngôi mộ này vốn do cụ Nguyễn Lung lừa thầy địa lý Tàu mà lấy được, sau đem táng hài cốt cha mẹ, ông bà tại đó và con cháu về sau nối nhau làm quan. Sau khi cụ mất thì cũng được táng tại đó. Ngôi huyệt này trước đây vốn nằm sát một con ngòi mà sau này người ta cho đào thành con mương dẫn thoát nước ra sông Cầu. Như vậy theo tâm linh thì ngôi mộ đã bị đào bới và động chạm tới khí mạch. Trong quá trình đào con mương, người ta đã đào được hai tấm bia cổ đặt úp vào nhau dưới đáy ngòi. Tuy nhiên, họ không hề đào được bộ hài cốt nào cả.

Lý giải điều này ông Bảo cho hay: "Trong gia phả có ghi rất rõ là huyệt mộ đều được chôn rất sâu, nằm dưới hẳn con ngòi nên dù đào mương cũng khó có thể tìm thấy được. Từ trước tới nay người ta thường tránh việc động chạm tới mồ mả nhưng do là công trình quốc gia nên chúng tôi đành phải chấp nhận".

Thịnh suy đâu phải chuyện long mạch:

Ông Bảo cũng cho biết: "Chuyện khoa cử mỗi thời mỗi khác. Họ Nguyễn trước nay vẫn đứng đầu thôn, xã về tỉ lệ con cháu đỗ đạt. Tuy nhiên có một thực tế là con cháu họ Nguyễn bây giờ không còn nhiều người làm chức cao như trước đây. Bên cạnh chuyện làng nước, chúng tôi cũng còn nhiều việc trong họ. Sau nhiều năm bàn tính, chúng tôi đã quyết định xây dựng nhà thuỷ đình, vừa để truyền dạy cho con cháu sau này về truyền thống của cha ông, vừa như là một giải pháp để bước ra khỏi lời nguyền".

Hiện nay con cháu họ Nguyễn đã có nhiều người là tiến sĩ, thạc sĩ ... Hàng năm, dòng họ đều tiến hành tuyên dương, khen thưởng, vinh danh những người đỗ đạt cao để khuyến khích con cháu học hành. Tuy nhiên kì tích của tổ tiên có lẽ khó lòng lặp lại. Và, câu chuyện phá phong thủy như một sự ám ảnh đối với mỗi người. Mặc dù vậy, ông Bảo cũng cho rằng cần phải có một cái nhìn mới để tránh bị chìm vào "cái bóng" của cha ông. "Thực tế nếu bản thân mỗi người không cố gắng thì dù có được phúc ấm tổ tiên cũng không thể khá lên được. Cho nên chúng tôi luôn lấy việc đó để giáo huấn con cháu và việc xây nhà thủy đình cũng nhằm mục đích như vậy - ông Bảo cho biết.

Tấm bia cổ rất có giá trị về mặt sử liệu

Trong khi đào mương thoát nước ở gần khu mộ tổ họ Nguyễn làng Kim Đôi, người ta đã đào được hai tấm bia cổ được xếp úp vào nhau nằm dưới đáy ngòi. Cho đến bây giờ các nhà nghiên cứu sử học vẫn không lý giải được tại sao hai tấm bia đó lại nằm ở vị trí đó và úp mặt vào nhau. Qua các bản dịch cho thấy, tấm bia được cụ Lương Thế Vinh soạn thảo năm 1484. Nội dung tấm bia là phác lại 5 đời họ Nguyễn làng Kim Đôi từ cụ tổ Sư Húc. Trải qua hơn 500 năm, tấm bia chỉ mờ mờ nét chữ chứ không có dấu hiệu bị huỷ hoại.

Theo nguoiduatin

Posted By Unknown03:30

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Học phong thủy với thủ đô tài chính Anh Quốc

Xem phong thủy - Hiện tại, tuy Anh Quốc không còn là một cường quốc như Mỹ. Tuy nhiên, đó không phải là điều đã xảy ra trong quá khứ. Bởi lẽ, hẳn bạn cũng biết rằng thứ ngôn ngữ mà người Mỹ sử dụng chính là tiếng Anh. Chỉ ba thế kỷ trước, đây chính là nơi bắt đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp biến nước Anh trở thành một đế quốc hùng mạnh, có thuộc địa trên khắp thế giới và được mệnh danh là “đất nước mà mặt trời không bao giờ lặn”.

Có thể nói rằng, Anh quốc chính là “kẻ thai nghén” nền văn minh công nghiệp của nhân loại và trung tâm tài chính của thế giới. Tuy nhiên, điều quan trọng là vì sao nước Anh chứ không phải là Pháp - đất nước của những nhà thơ - hay nước Đức - quốc gia của những nhà triết học - lại có được “sứ mệnh” cao cả ấy? Người ta nói rằng, điều này bắt nguồn từ thủ đô London - thành phố lớn nhất của xứ sở sương mù này…Một quá khứ vẻ vang.

Điều gì đã tạo nên nước Anh hùng mạnh, phong thủy chăng?

Nếu như nói rằng làm nên sự lớn mạnh và danh tiếng của nước Anh chính là London thì cũng có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, yếu tố tạo nên vai trò của London chính là dòng sông Thames. Chính nhờ “con rồng ngàn dặm” này, nước Anh mới có thể trở thành “kẻ thai nghén” nền văn minh công nghiệp hiện đại và cũng thai nghén luôn cả nước Mỹ sau này. Chính vì vậy, nói về phong thủy của London, không thể không nói tới vai trò của sông Thames.

Từ thế kỷ thứ 4, thứ 5 trước Công nguyên, nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, London bắt đầu hình thành và phát triển. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, diện tích London chỉ vẻn vẹn nằm trong bức tường phòng ngự dài 3,5km, còn nhỏ hơn phần trung tâm của London hiện nay. Mãi cho tới thế kỷ 15, 16, London mới bắt đầu phát triển và có quy hoạch. Bắt đầu từ thời điểm này, đặc điểm quan trọng nhất trong bố cục phong thủy của London được hình thành, đó chính là trục trung tâm.

London hình thành là nhờ vào điều kiện thuận lợi mà con sông Thames mang tới. Vì vậy, ngay từ lúc đó, tất cả các khu thương mại, trung tâm chính trị cũng như công nghiệp của London đều hình thành và tập trung ở hai bên bờ con sông này. Nhờ vậy, sông Thames dần trở thành trục trung tâm của Loddon.

Tuy nhiên, dù đã bắt đầu hình thành trục trung tâm, song lúc này, London vẫn phát triển rất hỗn tạp. Cho tới thế kỷ thứ 18, tất cả các lĩnh vực từ tài chính, chính trị cho tới kinh tế của London đều phát triển tới cực thịnh. Đây cũng chính là thời kỳ phát triển quan trọng nhất trong lịch sử phát triển và quy hoạch của thủ đô xứ sở sương mù.

Nói đặc điểm quan trọng nhất trong bố cục phong thủy của London là trục trung tâm, thực ra có hai ý nghĩa. Ngoài dòng sông Thames là trục của thành phố này, bản thân London cũng là một trục trung tâm. London chính là trục trung tâm của thế giới. Vào thời điểm phát triển phồn thịnh nhất của mình, văn hóa của London - văn hóa nước Anh - đã được người Anh mang tới tất cả những quốc gia thuộc địa và nửa thuộc địa.

Sẽ chẳng có gì phải ngạc nhiên nếu như rất nhiều quốc gia trên thế giới đều nói tiếng Anh như một thứ tiếng mẹ đẻ và rất nhiều bộ luật của nhiều quốc gia được xây dựng trên bộ luật của nước Anh từ thế kỷ 18. Những điều này là một bằng chứng rất rõ ràng rằng London đã, và cho tới nay, vẫn nằm ở trục trung tâm của thế giới.

London có thể phân ra làm ba bộ phận: thành London, nội London và ngoại London. Ngoài ra, cũng có thể phân London thành Tây London, Đông London, khu Nam và khu cảng. Mặc dù sông Thames chảy vào London ở phía Tây và đổ ra Biển Bắc ở phía Đông London, tuy nhiên, không giống như những thành phố ven sông khác, bố cục của London lại không phân thành hai nửa Nam - Bắc mà phân thành hai khu Đông - Tây rất rõ rệt.

Khu Tây London chính là trung tâm chính trị của nước Anh. Cung điện Buckingham, đại lộ Whitehall, Quốc hội cho tới văn phòng các bộ ngành đầu não của nước Anh đều tập trung ở khu vực này.

Trong khi đó, khu Đông là nơi tập trung các khu công nghiệp, khu nhà ở của công nhân. Chúng ta đều biết rằng, London là một thành phố công nghiệp đầu tiên và lâu đời bậc nhất trên thế giới. Đây chính là khu vực tạo nên sự giàu có của London. Người ta gọi bố cục phong thủy đặc biệt này của London chính là “Đông phú, Tây quý” (Phía Đông giàu, phía Tây sang). 

Nguyên nhân đương nhiên vẫn bắt nguồn từ sông Thames. Sau khi tập trung rất nhiều nhánh sông nhỏ, sông Thames chảy vào London ở cửa ngõ phía Tây. Nằm ở đúng vị trí sông Thames bắt đầu lớn lên, khu Tây trở thành nơi tích tụ được nhiều năng lượng và nguyên khí hơn phía Đông. Điều này dễ lý giải vì sao tất cả các cơ quan đầu não từ chính phủ cho tới hoàng cung của nước Anh đều tập trung tại khu vực phía Tây này.

Nếu như sông Thames đóng vai trò như một con “thủy long” mang tiền tài đến cho London thì dãy Pennines chính là con “thổ long” mang tới sự vững bền cho thành phố này. Dãy núi Pennines khi chạy tới London thì “kết huyệt”. Tuy nhiên, giống như tất cả các quá trình khác diễn ra trong tự nhiên, quá trình “kết huyệt” này cũng cần phải có một giai đoạn quá độ. Tuy nhiên, dù chỉ là quá độ nhưng nó có một vai trò cực kỳ quan trọng, bởi toàn bộ năng lượng của “long mạch” chạy tới nơi đây đều tập trung vào “điểm quá độ” này. Điểm quá độ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong bố cục phong thủy của London chính là ngọn đồi nổi tiếng Notting.

Đồi Notting nằm ở ngoại ô phía Tây của London. Đây là nơi có thể để lại ấn tượng sâu sắc cho bất cứ ai, bởi lẽ ở ngay một thành phố cổ kính và vào loại lâu đời nhất của châu Âu này, người ta lại có thể bắt gặp rất nhiều màu sắc của các dân tộc khác nhau.

Tại khu đồi Notting, bạn có thể ăn món thịt nướng Hawaii, cũng có thể mua được những đồ trang sức bằng đá của người châu Phi, có thể gặp những người đến từ khắp nơi trên thế giới. Điều đó chứng tỏ một khả năng dung hòa cực kỳ lớn của khu đồi Notting.

Có được khả năng ấy, như đã nói, là vì đồi Notting nằm ở đúng vị trí quá độ của dãy Pennines trước khi “kết huyệt” tại London. Chính nhờ nằm ở vị trí “quá độ” này, đồi Notting đóng vai trò như một cây cầu trung chuyển, mang toàn bộ nguyên khí mà mạch núi Pennines mang tới chuyển cho London. Nói đồi Notting có vai trò đặc biệt trong sự phát triển của London cũng là vì lý do này.

Yếu tố bố cục phong thủy của London!

Ngoài sông Thames và đồi Notting, để tạo nên sự thịnh vượng của London còn một yếu tố khác chính là “bốn con đường hoàng gia” nối từ trung tâm London ra bốn hướng. Trong phong thủy, đường là một khái niệm cực kỳ quan trọng, có ảnh hưởng vô cùng lớn tới bố cục cũng như kiến trúc của một thành phố.

Thậm chí, các nhà phong thủy còn coi những con đường như một thứ “hư thủy” (đóng vai trò như nước, đại diện cho tiền tài). Tuy nhiên, những con đường cũng có tính hai mặt. Ngoài việc mang tới những điều tốt lành, nó cũng có thể mang tới những tác động ngược lại.

Vào thời cổ đại, những người ý thức được vai trò của những con đường trong sự hưng thịnh của một thành phố không hề nhiều. Tuy nhiên, một khi họ nhận thức được điều này thì chắc chắn đế quốc của họ sẽ trở nên cực kỳ hưng thịnh. La Mã là một ví dụ. Hẳn nhiều người đều biết câu ngạn ngữ “Mọi ngả đường đều dẫn tới La Mã”.

Trên thực tế, mãi cho tới thời hiện đại, khi đế quốc La Mã đã lùi xa vào quá khứ, câu ngạn ngữ này mới có hàm nghĩa về tính duy nhất của chân lý, còn ở thời đại lúc bấy giờ, nó hoàn toàn mang nghĩa phản ánh kết cấu và quy hoạch của La Mã.

Với bốn con đường hoàng gia bắt đầu từ trung tâm London và hướng ra ngoài ở các hướng khác nhau, bố cục phong thủy của London có nhiều nét tương tự với bố cục đường phố của đế quốc La Mã cổ xưa. Tuy nhiên, bốn con đường hoàng gia này tự thân nó cũng mang theo những nội hàm riêng.

Theo các nhà phong thủy, bốn con đường hoàng gia của London mang đậm hàm nghĩa “Tứ tượng” của phong thủy truyền thống phương Đông. Người phương Đông chia vũ trụ thành bốn khu vực Đông - Tây - Nam - Bắc. Trong đó, phía Đông được gọi là Thanh Long tượng, phía Bắc được gọi là Huyền Vũ tượng, phía Tây gọi là Bạch Hổ tượng, phía Nam gọi là Chu Tước tượng, hợp lại gọi là “Tứ tượng”. Trong lý luận phong thủy, tứ tượng cũng được gọi là tứ linh, trực tiếp chỉ bốn linh vật.

Ở đây, bốn con đường hoàng gia xuất phát từ trung tâm London, tỏa ra bốn hướng khác nhau, vì vậy nó mang hàm nghĩa của “tứ tượng”. Hơn nữa, từ bốn con đường lớn này đã giúp cho London hình thành một mạng lưới đường xá giao thông, tạo thành một hệ thống giống như Nhị thập bát tú của tứ tượng.

Vì vậy, cách bố cục phong thủy của London giúp tạo nên một sự hòa hợp nhịp nhàng về mặt ý nghĩa với những vì sao trên bầu trời. Và chính sự hòa hợp này đã đem lại cho London một năng lượng vượt trội hơn hẳn những thành phố khác.

Có dòng sông Thames chảy xuyên qua trung tâm, là nơi “kết huyệt” của mạch núi Pennines, những người Anh còn rất khéo léo và có đầu óc trong chuyện quy hoạch thủ đô của mình. Chính những yếu tố này giúp London có được cả thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Điều đó lý giải vì sao trong suốt thế kỷ 18 - 19, nước Anh luôn là cường quốc số một trên thế giới.

Hải Phong (Dịch từ báo Trung Quốc)

Posted By Unknown19:30

Phong thủy giúp Hoa Quốc Phong kế tục Mao Trạch Đông

Thầy phong thủyMặc dù không giống như những lãnh tụ khác, quãng thời gian trai trẻ của Hoa Quốc Phong ra sao, không ai biết một cách tường tận, song, có một điều chắc chắn rằng, Hoa Quốc Phong không phải là kẻ “một đêm đổi đời”.

Sinh năm 1921, tới năm 1976, sau khi Mao Trạch Đông qua đời, ở tuổi mới 55, Hoa Quốc Phong được chỉ định làm người kế nhiệm Mao Trạch Đông làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Có điều, một người từ khi gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ là một bí thư huyện ủy nhỏ nhoi như Hoa Quốc Phong, có thể vượt lên rất nhiều nhân vật tai to mặt lớn khác để trở thành người kế tục của Mao Trạch Đông quả thực là điều không dễ dàng gì.


Thiên Sơn Cư sĩ, một thầy phong thủy từng phục vụ cho Vương Hồng Văn khẳng định rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng giúp Hoa Quốc Phong bước lên đỉnh cao của quyền lực…

Thiên Sơn Cư sĩ kể rằng, vào thời kỳ Nhật chiếm đóng Trung Quốc, Sơn Tây vốn là căn cứ địa của quân Cộng sản Trung Quốc, một vùng nông thôn rộng lớn nằm trong quyền khống chế của Đảng Cộng sản. Lúc bấy giờ, Thiên Sơn cùng gia đình mình chạy tới Sơn Tây tránh nạn.

Tại đây, do không có việc gì làm, Thiên Sơn đã dành hết thời gian nghiên cứu phong thủy chẳng màng gì tới chuyện chính sự nữa. Lúc bấy giờ, rất nhiều nông dân trong vùng cho rằng, Thiên Sơn không chịu tận lực vị đất nước, coi ông ta như Hán gian, nhiều lần ngăn cản không cho phép ông ta vào từ đường của làng tế lễ.

Vào tiết Trùng dương năm Thiên Sơn 35 tuổi, để tỏ lòng hiếu kinh với tổ tiên, Thiên Sơn dậy sớm, tắm rửa lên từ đường làm lễ, tuy nhiên, những người trong thôn vẫn nhất định không cho ông ta vào.

Trong lúc giằng co, Thiên Sơn còn bị toán người canh giữ xô ngã xuống đất, đồ lễ bị đổ vương vãi hết xuống mặt đất. Đúng lúc đó, Thiên Sơn nghe có một giọng nói, quát những người trong thôn dừng tay.

Thiên Sơn cố nhịn đau, ngẩng mặt lên thì thấy người này là một ông lão khoảng 60, râu dài, sắc mặt hồng hào, quắc thước. Ông lão này chính là cha ruột của Hoa Quốc Phong.

Cha của Hoa Quốc Phong là cử nhân từ thời nhà Thanh vì thế, là người rất có uy tín trong thôn. Thường ngày, ngoại trừ việc dạy học cho con em trong làng, ông cũng là người được người dân trong thôn nhờ cậy việc này việc khác, chẳng hạn như đổi tên cho con, hòa giải chuyện vợ chồng bất hòa hay viết câu đối trong những dịp lễ tiết.

Hôm đó, đúng vào hôm cha của Hoa Quốc Phong đến để giúp gia đình họ Trần đổi tên cho cô con gái trên đường trở về đi qua từ đường của thôn, biết chuyện của Thiên Sơn không nhịn được sự bất bình mới lên tiếng giúp đỡ.

Người trong thôn lúc đầu rất ngạc nhiên, song sau một lúc thì bình tĩnh trở lại. Người thanh niên ban nãy đẩy ngã Thiên Sơn bước tới đỡ ông ta dậy, phủi đất bụi bám trên người ông.

Vì chuyện này, Thiên Sơn Cư sĩ rất cảm kích sự giúp đỡ của cha Hoa Quốc Phong. Cha của Hoa Quốc Phong cũng cho rằng, Thiên Sơn là người có lòng hiếu, vì vậy, ấn tượng về Thiên Sơn rất tốt. Về sau, cha của Hoa Quốc Phong thường xuyên mời Thiên Sơn Cư sĩ tới nhà mình nói chuyện.

Một lần, trong lúc nói chuyện, Thiên Sơn Cư sĩ biết rằng, cha của Hoa Quốc Phong có một đứa con trai đặt tên là Văn Uy, tuổi mới 21 nhưng đã có tài hơn hẳn người thường. Tuy nhiên, chẳng biết vì sao, lần nào cũng bị trượt khỏi cơ hội làm quan.

Chẳng hạn như năm 19 tuổi, Văn Uy có cơ hội trở thành thư ký của huyện Giao Thành. Không ngờ, những tưởng đã được lên chức thì cấp trên lại phái một người khác về thay. Chuyện này là cực kỳ hiếm thấy, ngay cả bản thân Văn Uy cũng cảm thấy kinh ngạc.

Nghe câu chuyện của Hoa Quốc Phong, biết rằng, dương trạchâm trạch của nhà Hoa Quốc Phong có vấn đề bèn đề nghị cha của Hoa Quốc Phong nói qua cho mình nghe về thân thế gia đình. Cha của Hoa Quốc Phong nghe xong bèn dẫn Thiên Sơn Cư sĩ tới chỗ khu mộ tổ, lần lượt kể qua thân thế của gia đình mình.

Hóa ra nơi đặt mộ của nhà Hoa Quốc Phong cũng là do một thầy phong thủy chọn lựa vì thế, vị thế vốn không tồi. Ban đầu, Thiên Sơn không thể nào nhìn ra được điểm không tốt của vị trí đặt mộ.

Nơi đây nằm ở ngoại thành của Giao Thành, trước mặt là những ruộng cao lương bát ngát, ngay phía trên là một mõm đá nhô ra, giống như một móng vuốt của rồng, phía sau là những dãy núi trùng trùng điệp điệp, cao gần như nhau, không có vẻ gì là chỗ cao chỗ thấp.

Thiên Sơn Cư sĩ quan sát đi quan sát lại nhiều lần song vẫn không hiểu vì sao vị thầy phong thủy trước lại đề nghị nhà họ Tô (Hoa Quốc Phong vốn tên thật là Tô Chú, là họ Tô chứ không phải họ Hoa) đặt mộ ở đây.

Vì thế, sau khi quan sát một hồi, Thiên Sơn đành phải ra về nghiên cứu thêm. Về tới nhà, Thiên Sơn nói với cha của Hoa Quốc Phong kể lại với mình những lời mà thầy phong thủy trước kia đã nói. Tuy nhiên, cha của Hoa Quốc Phong trước đây lại không hỏi gì cha ông của mình về việc này nên không hề biết gì.

Chỉ biết, trước khi qua đời, cha của ông nói lại rằng, nhà họ Tô có thể sẽ sinh ra quý nhân, tuy nhiên, phải dựa vào sự nỗ lực của chính mình, từng bước từng bước mà đi lên mới được chứ nhất định không được vội vàng, hy vọng “một đêm đổi đời”.

Ngày hôm sau, trời vừa sáng, Thiên Sơn lại một mình tìm tới chỗ khu mộ nhà họ Tô. Thiên Sơn đứng trên một mỏm núi cao hơn trăm mét nhìn xuống dưới. Mộ của nhà họ Tô nằm ở ngay đối diện với mỏm núi này. Do đứng ở vị trí cao nên Thiên Sơn có thể bao quát toàn bộ địa thế xung quanh khu mộ.

Chỉ thấy, ở phía đối diện với khu mộ là một con sông nhỏ chảy ngang, nước ông trong xanh, dòng chảy chậm rãi, tĩnh lặng. Bên bờ trái của sông là ruộng lúa bát ngát, song bên phải thì rất kỳ quái. Huyện Giao Thành của Sơn Tây vốn là nơi cây cối không nhiều.

Tuy nhiên, tại bờ phải sông thì có hai khoảnh rừng rất rộng, bị phân cách bởi một dãy núi. Vì thế, nhìn từ trên cao xuống, hai khu rừng và dãy núi trông giống như hình một con chuồn chuồn đang bay. Lẽ nào đây là nơi “chuồn chuồn uống nước?” Thiên Sơn Cư sĩ thốt lên, mừng thầm trong bụng.

Âm phúc của long mạch thuộc thế “Chuồn chuồn uống nước” không lớn, chỉ từng giọt từng giọt như mưa phùn nhưng lại bền vững. Vì thế, người được hưởng âm phúc này phải nỗ lực từ từ mới có hiệu quả.

Nếu như quá vội vàng thì có thể ảnh hưởng tới tương lai của mình, ngược lại thì con cháu có thể đầy đàn, ân phúc hưởng không hết. Tuy nhiên, hiện tại, nhà họ Tô vẫn chưa có được gì là do nơi đây đã phạm phải ngũ hành tương sinh tương khắc.

Sau khi khảo sát, Thiên Sơn đã tìm thấy nguyên nhân. Hóa ra, miệng của con chuồn chuồn không chạm tới nước của sông. Phía trước của ngôi mộ tuy có sông chảy qua tuy nhiên, do điều kiện địa lý, giữa sông và ngôi mộ có một dãy bãi hoa cương lớn khiến cây cối trên mặt đất không thể sinh sôi được, thành ra một chút “nước” cũng không có.

Sau khi cha của Hoa Quốc Phong biết chuyện, vội vàng hỏi Thiên Sơn cách bổ sung khuyết điểm của khu mộ. Thiên Sơn Cư sĩ nghĩ rất lâu, cuối cùng mới nói cha của Hoa Quốc Phong trông một ít cây vào bãi đá hoa cương ở giữa khu mộ và dòng sông, nếu như bị đá cản trở thì đào đá ra để rễ cây có thể ăn sâu xuống lòng đất lấy được nước là mọi chuyện có thể giải quyết.

Theo Thiên Sơn Cư sĩ thì cây có thể là vật trung gian giúp cho chuồn chuồn có thể có được nước. Mặc dù không uống trực tiếp được nước nhưng có thể lấy nước thông qua rễ cây và lá cây. Cách này vừa tránh việc đào mương dẫn nước làm hỏng địa thế phong thủy vốn có mà vẫn có được nước cho “con chuồn chuồn”, có thể nói là một cách “lưỡng toàn kỳ mỹ”.

Sau nhiều tháng làm việc, mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đó. Lúc này, cha của Hoa Quốc Phong tin rằng, con trai của mình nhất định sẽ có ngày thăng quan tiến chức. Kết quả, vào năm 24 tuổi, Văn Uy chính thức trở thành bí thư huyện ủy huyện Giao Thành của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hai năm sau, Văn Uy lại được thăng chức lên làm thư ký huyện Dương Khúc kiêm Chính ủy quân đội địa phương. Vào khoảng những năm 1945, Giao Thành và Dương Khúc là căn cứ quan trọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tuy nhiên, Văn Uy, sau này đổi tên thành Hoa Quốc Phong không hề biết rằng, cha mình đã dùng phong thủy để ngấm ngầm giúp mình.

Sau khi sửa đổi phong thủy phần âm trạch, Thiên Sơn Cư sĩ lại đề nghị cha của Hoa Quốc Phong sửa một chút dương trạch (nhà đang ở). Lúc bấy giờ, nhà họ Tô nằm ở vị trí giữa làng, xung quanh trồng cây ăn quả và trại nuôi gà.

Nhà được xây theo hình vuông, chẳng có địa thế gì. Thiên Sơn Cư sĩ sau khi xem xét, cho rằng, đây là bố cục không tốt, không thể phối hợp được với khi thế mà âm trạch có. Vì thế, cần phải sửa lại địa thế của dương trạch mới có thể giúp cho con cháu đời sau phát triển tốt được.

Theo cách của Thiên Sơn, cũng không phải thay đổi gì nhiều, chỉ cần đào thêm 4 cái rãnh nhỏ ở góc nhà và làm lại mái hiên nhà cho cong lên một chút, theo thế “đại bàng tung cánh” là có thể giải quyết được vấn đề.

Tuy nhiên, khi Thiên Sơn cùng cha của Hoa Quốc Phong làm mái hiên, mãi mà vẫn không thể làm mái hiên cong lên trở thành thế cánh chim sắp tung bay được. Vì thế, Thiên Sơn quyết định dùng một cái kệ kê lên phía dưới của mái hiên, khiến mái hiên được nâng lên thành thế đang bay, một động một tĩnh, âm dương phối hợp.

Sau đó, Thiên Sơn phát hiện ra rằng, địa thế “chuồn chuồn uống nước” chỉ phù hợp với việc phát triển về võ tài, tương khắc với tên Hứa Văn Uy. Vì thế, Thiên Sơn Cư sĩ đề nghị Văn Uy nên đổi tên, lấy một cái tên mang khí thế của võ tài.

Cha của Hoa Quốc Phong suy nghĩ một hồi rồi quyết định lấy ba chữa Hoa Quốc Phong trong “Trung Hoa Khang Nhật Cứu Quốc Tiên Phong Đội” (Đội tiên phong kháng nhật cứu quốc Trung Hoa) đặt làm tên cho Hoa Quốc Phong.

Vì thế, Văn Uy từ đó mới lấy tên làm Hoa Quốc Phong. Chính nhờ như vậy, Hoa Quốc Phong đã có được sự yểm trợ của cả âm trạch lẫn dương trạch, giúp ông có thể từng bước từng bước tiến gần tới đỉnh cao của quyền lực, trở thành lãnh tụ của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Lời khẳng định của Thiên Sơn dần dần ứng nghiệm. Vào năm 1949, Hoa Quốc Phong theo quân của Đảng Cộng sản theo đoàn công tác phía Nam tới Hồ Nam, chủ trì cuộc đấu tranh chống lại địa chủ, cường hào, ác bá.

Tới năm 1954, Hoa Quốc Phong được phái tới Tương Đàm, quê hương của Mao Trạch Đông làm việc. Nhờ có nhiều đóng góp tại quê nhà của Mao Trạch Đông, Hoa Quốc Phong bắt đầu được chú ý. Khi Mai Trạch Đông tập hợp cuốn sách “Cao trào Chủ nghĩa xã hội ở nông thôn Trung Quốc”, báo cáo của Hoa Quốc Phong cũng được đưa vào.

Trong suốt thời gian phấn đấu cho sự nghiệp của mình, Hoa Quốc Phong cũng rất cẩn trọng, không hề vội vã, biểu hiện rõ sự trung thành tuyệt đối của mình với Mao Trạch Đông. Nhờ vậy, Hoa Quốc Phong rất được Mao Trạch Đông tin tưởng và coi trọng.

Sau khi mái nhà được sửa song, Hoa Quốc Phong cũng bắt đầu có vị trí trong Đảng Cộng sản Trung Quốc thì Thiên Sơn Cư sĩ cũng cáo từ. Trước khi đi, Thiên Sơn dặn dò cha của Hoa Quốc Phong rằng: Khi có cơ hội thích hợp phải đem cơ hội nhường cho người khác.

Để một mình tự hưởng có thể mang lại nguy hại khôn lường. Thiên Sơn nói xong mấy câu này liền quay đi ngay, không thèm ngoảnh mặt lại chào nữa. Cha của Hoa Quốc Phong nghe xong những câu này, chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao.

Thời gian qua đi, người ta nói rằng, cha của Hoa Quốc Phong vì mấy câu nói của Thiên Sơn mà cảm thấy không vui vì suy nghĩ rất nhiều ông vẫn không hiểu nó có hàm ý gì.

Vào năm Hoa Quốc Phong 23 tuổi, cha của Hoa Quốc Phong cuối cùng cũng không thể chịu nổi sự tò mò nữa, quyết định cho người đi khắp nơi tìm Thiên Sơn Cư sĩ hỏi cho rõ ràng về mấy câu nói trước lúc ông đi. Thông tin truyền đến tai Thiên Sơn Cư sĩ, lúc này đang chuẩn bị trốn ra Thượng Hải.

Thiên Sơn vẫn nhớ tới sự giúp đỡ của cha Hoa Quốc Phong trước kia với mình, có ý cảm kích, không thể không quan tâm tới nữa. Tuy nhiên, Thiên Sơn cũng lo rằng, nhà họ Tô sẽ tự ý sửa đổi nhà cửa khiến phá vỡ địa thế phong thủy mà mình đã tốn rất nhiều công sức để xây dựng.

Vì thế, Thiên Sơn không quay trở lại nhà họ Tô mà viết một bức thư gửi cho cha của Hoa Quốc Phong. Trong thư, Thiên Sơn nói, xung quanh nhà ở của họ Tô giống như một mảnh ruộng màu mỡ, nhờ ảnh hưởng của long khí, có thể trở nên đại phú đại quý.

Việc ở hai bên đường có hai kênh nước đã xác định rằng, cái phú quý ấy phải cùng người khác chia sẻ, không thể tự giữ mà hưởng một mình.

Người ta nói rằng, sau khi cha của Hoa Quốc Phong nhận được bức thư thì bán tín bán nghi. Sau đó, nghĩ tới chuyện của Vương Tứ Dương ở làng bên thì mới bình tĩnh trở lại. Vương Tứ Dương là một người làm nghề mổ lợn ở làng bên cạnh.

Ở bốn phía bên ngoài nhà của Vương cũng hình thành thế ruộng tốt, tuy nhiên, do không biết mình có được địa thế phong thủy tốt, thành ra, trong vườn nhà Vương trông mấy cây rau hẹ, cứ lên tốt là liền bị Vương dùng dao cắt cụt. Từ đó, việc làm ăn của Vương Dương Tứ lúc được lúc mất, vĩnh viễn không phát lên được.

Hoa Quốc Phong thì vẫn không biết cha mình tìm mọi cách sửa đổi phong thủy để hỗ trợ, vẫn miệt mài cố gắng và phấn đấu. Trong quá trình đó, Hoa Quốc Phong kết hôn với một người vợ tốt, đồng thời nhờ âm phúc của tổ tiên, chuyện con cái của Hoa Quốc Phong cũng rất mãn ý.

Tới năm 1966, Mai Trạch Đông công bố bản “Thông cáo 16 tháng 5” với danh nghĩa của trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngay sau đó, cuộc Đại Cách mạng Văn hóa bắt đầu được triển khai trên khắp cả nước. Hoa Quốc Phong và Trương Bình Hoa,… bị mất hết quyền chức.

Lời tiên tri của Thiên Sơn Cư sĩ về “ruộng tốt chia nước” cuối cùng đã ứng nghiệm. Tuy nhiên, tới năm 1971, sau khi sự kiện Lâm Bưu xảy ra, các thân tín của Lâm Bưu bị đấu tranh và thanh trừng, địa vị của Hoa Quốc Phong bắt đầu tăng lên cao trở lại.

Lúc này, Hoa Quốc Phong không chỉ được điều tới làm việc tại trung ương Đảng Cộng sản mà còn kiệm nhiệm cả chức bí thư đảng ở Hồ Nam. Cứ như vậy, sự thịnh vượng và phát triển ngày càng tới nhiều hơn với vận mệnh của Hoa Quốc Phong.

Từ năm 1971, Hoa Quốc Phong được điều tới Bắc Kinh làm việc, nhận lệnh trực tiếp từ Chu Ân Lai. Do Hoa Quốc Phong thuộc phe ủng hộ Mao Trạch Đông, do vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hoa Quốc Phong cũng triệt để áp dụng chủ nghĩa Mao Trạch Đông.

Nhờ vậy, Hoa Quốc Phong rất được Chu Ân Lai tin tưởng. Tới tháng 1 năm 1971, Hoa Quốc Phong tham gia Hội nghị lần thứ nhất của đại hội khóa 4 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Bộ trưởng Bộ Công An, xếp ở vị trí thứ 6 trong trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đến thời điểm này, chuồn chuồn không còn ở tư thế “sắp bay” nữa mà đã bước vào giai đoạn dương cánh bay cao. Ngày Hoa Quốc Phong bước lên đỉnh cao quyền lực đã gần kề, chỉ cần Hoa Quốc Phong tiếp tục nỗ lực.

Tới năm 1977, sau khi Mao Trạch Đông qua đời, Hoa Quốc Phong được bầu làm Phó chủ tịch Trung ương Đảng và Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Sau đó, Hoa Quốc Phong lại tiếp tục được bầu làm Thủ tướng Trung Quốc.

Lúc bấy giờ, Thiên Sơn Cư sĩ đang phục vụ dưới trướng của Vương Hồng Văn, một trong bè lũ bốn tên. Nhận thấy, ngày tàn của bè lũ bốn tên sắp đến, Thiên Sơn quyết định tìm kế thoát thân cho mình trước, chạy ra Hồng Kông. Không lâu sau, bè lũ bốn tên bị bắt.

Mặc dù đã bước lên đỉnh cao của quyền lực, song vận mệnh đã định trước, địa thế chuồn chuồn uống của khu mộ tổ nhà họ Tô không thích hợp với việc ở lâu tại nơi nước lớn. Nếu miễn cưỡng, có thể gây ra họa sát thân.

Vì thế, chỉ sau đó vài năm, Hoa Quốc Phong đồng ý với Đặng Tiểu Bình, chính thức thôi chức vụ Thủ tướng để Triệu Tử Dương lên thay. Vận mệnh của Hoa Quốc Phong đã được sắp đặt như thế, cho dù Hoa Quốc Phong có bản lĩnh tới đâu cũng không thể thay đổi được.

Nếu cứ cố chấp giữ lại cái lợi cho riêng mình, có thể làm hại tới gia tộc. Thiên Sơn cho rằng, xét theo ý nghĩa này, Hoa Quốc Phong vẫn là một kẻ thông minh.

Hải Phong - phunutoday

Posted By Unknown03:25

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2013

Phong thủy Việt Nam với thầy địa lý Cụ Tả Ao (2)

Phong thủy Tả Ao - Sông Tô LịchThầy phong thủyÔng tổ Phong thủy Việt Nam: T Ao người Việt Nam học được khoa địa lý chính thống ở Trung Quốc vào thế kỷ 16 (có nhiều tư liệu viết về điều này đều không nhất quán, có sách nói là vào thế kỷ 17 hay 18). Còn tên thật của ông là Nguyễn Đức Huyên, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh. Và Tả Ao sinh vào năm nào không ai rõ, chỉ được biết ông sinh vào thời vua Lê chúa Trịnh (1545 – 1788).

Qua các câu chuyện truyền khẩu:

Nhà Tả Ao nghèo, cha mất sớm còn mẹ bị bệnh lòa mắt, vì thế nên ông đến giúp việc cho một ông thầy thuốc người Tầu ở trong huyện, trước lấy tiền trị mắt cho mẹ sau học thêm được nghề bốc thuốc chữa bệnh. Chính vì thế mà ông chữa được bệnh mắt lòa cho mẹ. Ông thầy Tầu thấy Tả Ao có chí lớn, nên khi về lại bên Trung Hoa đã dẫn ông theo để dạy thêm nghề thuốc. Trên đất khách, gần nhà ông thầy thuốc, có một thầy địa lý rất giỏi, cũng đang bị bệnh về mắt, Tả Ao liền được thầy phái sang chữa trị thay ông ta.


Thầy địa lý nói rằng, nếu Tả Ao chữa khỏi bệnh mắt cho mình thì ông sẽ thưởng 50 lượng vàng. Tả Ao nhờ kinh nghiệm chữa khỏi bệnh mắt cho mẹ, nên đã chữa khỏi bệnh cho thầy địa lý, nhưng ông không nhận vàng mà chỉ xin ông ta truyền cho nghề xem phong thủy. Vì ơn nghĩa, nên thầy địa lý bằng lòng, truyền dạy hết tinh hoa địa lý phong thủy cho Tả Ao, đến khi thành tài học và hành viên mãn, ông xin cả 2 ông thầy cho về nước.

Trước khi cho Tả Ao về Việt Nam, ông thầy địa lý muốn thử lần cuối sự hiểu biết của Tả Ao, ông ta làm ra 100 mô hình đất kết trên bãi cát, dưới mỏi huyệt có yểm một đồng tiền, rồi đưa Tả Ao 100 cây kim ra đấy tìm huyệt để điểm.Tả Ao điểm đúng 99 lổ của đồng tiền, còn một cây điểm ở mép, mà huyệt này lại là huyệt thứ 100. Đây là huyệt ảo, vì mô hình tạo dáng rất huyền bí ẩn hiện dưới những mô đất nhấp nhô, những thầy địa lý giỏi cũng khó phát hiện ra đúng huyệt đạo. Cho nên thầy địa lý biết rằng người Việt Nam đã học hết bí kíp phong thủy của người Trung Hoa.

Khi Tả Ao về đến quê hương, ông chỉ lo hành nghề bốc thuốc, không hành nghề địa lý phong thủy, chỉ khi nào cần thiết ông mới ra tay xem thế đất dùm mọi người, tuy vậy danh tiếng xem địa lý, phong thủy của Tả Ao lại nổi hơn nghề thầy thuốc.Cũng chính vì ông không hành nghề xem phong thủy cho ai, nên không có hậu bối. Khi Tả Ao mất người nhà chỉ tìm thấy 2 bộ sách viết về địa lý phong thủy, là Địa đạo diễn ca và Dã đàm Tả Ao. Nhưng trong dân chúng có nhiều sách được in ra nói là sách do chính Tả Ao viết. Còn các nhà địa lý phong thủy, khi đọc xong 2 quyển sách trên, đều cho đây là sách quý.

Những truyền thuyết về Tả Ao:

Tuy Tả Ao không hành nghề xem phong thủy, ông chỉ chuyên chữa bệnh cho người nghèo, nhưng trong dân gian có những truyền thuyết truyền khẩu nói về nghề xem phong thủy của ông. Có lẽ vì điều này mà ông được người đời xưng tụng “vua địa lý” của nước Việt chăng ?! Sau đây là một vài truyền thuyết về tài xem địa lý phong thủy của Tả Ao:

Cứu Vua nhờ mộ kết phát.

Một ngày nọ Tả Ao đi ngao du sơn thủy, tuổi tuy đã già nhưng dáng người vẫn quắc thước khoẻ mạnh, khi ông đi đến một làng quê nọ, trời nắng nóng nên ghé vào ngồi nghỉ mát dưới gốc cây đa bên làng, ông nhìn thấy một anh nông dân đang miệt mài cày ruộng, đến khi mặt trời đứng bóng mới chịu tháo cày cũng vào gốc đa ngồi mở cơm nắm ra ăn.

Thấy một ông lão cùng ngồi ở đó nhưng không ăn uống gì cả, anh ta mới lên tiếng hỏi :- Xế trưa rồi ông không dùng cơm sao, hay là ông không sẵn mang theo, thôi cùng nắm cơm này ăn với cháu cho vui. 

Anh nông dân vừa giở cơm, vừa mau mắn mời ông lão :- Cháu mời ông dùng cơm…Thấy thái độ anh nông dân dễ mến, Tả Ao không khách khí, bèn vui vẻ ngồi lại cùng ăn.

Bốn năm ngày như vậy, anh nông dân vẫn một lòng kính trọng Tả Ao, mời cơm và ông cũng không lần nào từ chối. Đến bữa cuối cùng, bỗng ông nói với anh nông dân :- Chắc anh vẫn không biết ta là ai? Ta chẳng giấu gì anh, ta chính là thầy địa lý Tả Ao đây!

Anh nông dân nghe danh Tả Ao đã lâu, nay có dịp diện kiến nên vừa mừng vừa hốt hoảng, liền quì lạy xin ông tha lỗi. Tả Ao đỡ anh nông dân đứng dậy nói tiếp :- Ta xem anh là người có đức nên có ý giúp anh đặt một ngôi mộ sau này sẽ phát phúc, phát tài, cho anh nở mặt với thiên hạ…- Ông dạy quá lời, nhà cháu mấy đời nay đều là nông dân chân lấm tay bùn, bần hàn, đi cày thuê cuốc mướn kiếm cơm qua ngày, mong gì nở mày nở mặt với ai ?- Anh cứ yên tâm. Ta nói sẽ giúp anh được giàu sang phú quí trong vòng 100 ngày thôi.

Nào anh hãy dẫn ta ra nơi mộ của cha mẹ của anh đi, ta xem thế nào sẽ sửa cho. Anh nông dân mừng rỡ bèn nghe theo lời Tả Ao, dẫn ông đi ra mộ của cha anh ta. Tả Ao xem xong mới truyền :- Mộ đặt nơi thế đất không tốt, suốt đời sẽ bần hàn cơ cực. Phải đào lên cải táng, di dời qua nơi đất khác mà thôi.

Nói rồi bảo anh nông dân đào mộ lên, xếp xương cốt vào một chiếc hủ đất đem đi chôn ở một huyệt đất mà Tả Ao đã chọn sẵn. Xong đâu đấy, Tả Ao căn dặn :- Anh nhớ không cho ai biết chuyện này! Một trăm ngày nữa, vào ngày mùi tháng ngọ, đúng giờ tý anh phải có mặt ở kinh đô, đứng ở hướng Đông. Hễ gặp một người đàn ông mặc áo trắng, đi hài xanh, từ trong thành chạy ra với bộ mặt hốt hoảng, thì anh cứ chạy lại bảo: “Con xin cứu ngài!”, rồi cõng thẳng về giấu trong nhà, ngày ngày lo cơm nước cho tử tế. Anh cứ thế mà làm, đừng suy nghĩ gì hết! Nói xong, Tả Ao từ biệt anh nông dân mà đi thẳng, về sau anh ta có đi tìm nhưng chẳng biết ông đi về đâu.

Đúng như lời dặn của Tả Ao, đúng ngày giờ anh nông dân ra kinh đô đứng đợi ở cửa Đông. Bỗng nghe có náo động từ trong thành vọng ra nào tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng quân reo hò, tiếng người gào thét, rồi lửa bốc cháy đỏ rực một góc trời. Và quả nhiên, một người đàn ông dáng thư sinh mặc áo trắng, đi hài xanh, hớt hải một mình chạy qua gần chỗ anh nông dân đang đứng. Anh ta chỉ đợi có thế bèn chạy đến bên nói to:- Thưa ngài, con xin cứu ngài! Nói đoạn ghé vai cõng người ấy chạy một mạch về giấu trong nhà. Người ấy dáng chừng sợ hãi, suốt ngày im lặng nghe ngóng động tĩnh. Anh nông dân cũng chẳng hỏi thân thế của người đàn ông ấy đang lo sợ đến quên ăn mất ngủ.

Vài ngày sau bỗng có loa truyền rằng, ai đang giữ vua ở đâu thì báo cho quan quân kịp đưa vua về kinh. Lúc ấy ông khách mới nói cho anh nông dân biết mình chính là vua, mấy ngày trước đây bị bọn gian thần định soán ngôi. Rồi nhà vua sai anh ta đi báo cho quan quân biết nơi vua đang ở ẩn. Khi quan quân đến rước vua, vua cho phép cả anh nông dân cùng đi theo mình về kinh thành.

Tại kinh đô vua thiết triều, trấn an trăm họ và phong cho vị ân nhân là anh nông dân được làm quan đến chức nhị phẩm, cùng vàng bạc lụa là nhiều vô số kể.Thì ra ngôi mộ mà Tả Ao đặt cho người cha anh nông dân, kết phát y như lời ông nói khi trước, chỉ trong vòng 100 ngày.

Khi Tà Ao thương và giận

Khi thương…

Quanh năm Tả Ao thường đi đây đó khắp trong nước để tìm những ngôi đất quí. Một lần đi qua tỉnh nọ thấy có một ngôi đất rất đẹp, bèn buột miệng khen:- Kiểu đất này mà đặt mộ thì chắc chỉ sáu tháng là phát làm quan! Nhà ai có phúc thì được hưởng thôi?

Sau đó ông đi về hướng làng, gặp một người đàn ông trung niên đi tới. Nhìn thấy nét mặt ông ta tuy phúc đức nhưng tướng lại khắc khổ quá. Tả Ao mới hỏi:- Ông có muốn ra làm quan không? Người đàn ông đáp :- Lạy ông, nhà tôi bất hạnh ba đời, học hành chỉ đủ đọc sách, muốn làm quan không xong, thi cử đợt nào cũng thi rớt, nên nay vẫn sống kham khổ làm ruộng kiếm sống thôi. Được làm quan thì phúc ba đời để lại.

Tả Ao nghĩ bụng ông ta không nói sai. Rồi ngắm nhìn ông ta một lúc bèn nói:- Thôi được, tôi sẽ giúp ông̣ đặt lại ngôi mộ tổ. Ông về lo sẵn 300 quan tiền. Người đàn ông mừng lắm vội mời Tả Ao theo mình về nhà, gọi người thân ra đào ngôi mộ tổ, bốc xương cốt cho vào cái tiểu sành đem đến chôn sâu xuống huyệt đất do Tả Ao vừa thấy ban sáng mà táng lại. Xong việc, ông ta giữ lời, trao cho Tả Ao đủ 300 quan tiền, nhưng Tả Ao chỉ lấy có ba quan, còn lại bảo đem phát hết cho người nghèo khó trong làng.

Gần sáu tháng sau, vào một đêm không trăng, cả nhà ông ta đang quây quần dưới ngọn đèn bỗng có tiếng người gõ cửa. Người nhà ông ta ra mở cửa, thấy trước mặt là một ông tướng uy nghi lẫm liệt nhưng có vẻ đang thất cơ lỡ vận. Khách thật thà nói mình đang lỡ độ đường, xin gia đình cho ăn uống. Ông ta vốn hiếu khách vội sai người nhà nấu cơm đãi khách rất mực nồng hậu. Cơm nước vừa xong, ông khách mới nói:- Thưa ông̣, tôi là tội phạm đang bị nhà Chúa lùng bắt. Đằng nào tôi cũng không thoát khỏi. Xin ông̣ mang dây thừng trói tôi lại rồi đem nộp cho chúa Trịnh mà lĩnh thưởng. Như vậy dù tôi có bị hại, tôi cũng giúp ích được cho gia đình ông̣, còn hơn là uổng thân vô ích.

Cả nhà kinh ngạc sững sờ trước những lời nói của người khách lạ. Không ai nỡ hành động, nhưng ông khách cứ giục mãi, bất đắc dĩ họ phải làm theo. Chúa Trịnh được ông ta giao nộp viên tướng thất thế, hết sức khen ngợi, bèn phong cho làm chức Tri huyện để trọng thưởng. Vị khách đó chính là Mạc Kính Đô, tướng nhà Mạc đang bị thất thế. Vì cảm tấm lòng tốt của ông lão mà Kính Đô đáp lại ông bằng một hành động lạ lùng có một không hai trong thiên hạ.Đúng như lời tiên đoán của Tả Ao không sai. Chỉ trong sáu tháng là được làm quan.

… và giận !

Một hôm Tả Ao đang đi đến vùng đất nọ. Thấy ngôi đình làng ở đây đặt hướng bị thất cách, ông đứng ngắm mãi rồi đến gần để xem cho rõ. Giữa lúc trong đình đang làm lễ kỳ yên. Các vị chức sắc trong làng đang chuẩn bị bữa tiệc chiều.

Một người biết mặt Tả Ao liền chạy ra khẩn khoản mời ông vào trong đình. Các vị chức sắc được gặp thầy địa lý trứ danh nên mừng lắm, ông tiên chỉ trong làng nói :- Hôm nay là ngày tế kỳ yên trong làng, may được gặp thầy thật là phúc cho cả làng này lắm. Nhân thể nay mai làng cho sửa lại ngôi đình, xin cụ coi cho cái hướng nào tốt, làm sao cho làng chúng tôi phát khoa bảng rầm rầm, nhằm đè đầu cưỡi cổ thiên hạ một phen cho họ biết tay!

Lâu nay cả làng chưa ai thi đậu cả! Một ông hăng hái nói thêm :- Cụ tiên chỉ nói phải đấy thưa cụ! Các làng bên, không làng nào không có tiến sĩ, cử nhân, xoàng thì cũng phó bảng, chót chét cũng tú tài. Riêng làng này chắc các cụ trước đặt hướng đình có nhầm nhỡ gì đây, nên bao nhiêu năm trời vẫn suôn cành, không hưởng được trái lộc nào.

Cụ đã đến đây xin ra tay giúp chúng tôi được đè đầu cưỡi cổ thiên hạ một phen cho hả! Tả Ao chỉ cười nói :- Tưởng gì chứ nếu các cụ chỉ ước có vậy thì tôi xin ra tay, không dám nề hà gì! Nhưng chỉ xin 3000 quan tiền để lấy công thôi.

Các vị chức sắc nghe nói đến tiền công đến 3000 quan, thì lắc đầu le lưỡi, có người than thở :- Làng này vì không đỗ đạt, nên không “tơ hào” được gì nên còn nghèo túng, chỉ mong sau này đè đầu cưỡi cổ được thiên hạ, nói gì 3000 đến 5000 quan chúng tôi cũng lo cho cụ được, mong cụ xem lại mà bớt cho.

Tả Ao nghĩ thầm trong bụng, ta lấy tiền giúp người nghèo chứ có phải dùng riêng đâu. Bọn chúng mi thích đè đầu cưỡi cổ thiên hạ để kiếm tiền hưởng thụ, thì ta sẽ chiều ý thôi. Nghĩ thế nên giận, Tả Ao lên tiếng :- Nghe các vị nói như vậy, ta cũng cảm động lắm, thôi thì các vị có bao nhiêu để trả công, xin cứ nói thấy được ta giúp cho.

Vị tiên chỉ nghe Tả Ao nói thế, liền đáp :- Trong đình chỉ còn vỏn vẹn 500 quan tiền, mong cụ lấy giúp. Tả Ao lại giận trong lòng, đình làng nghèo mà cúng kỳ yên đến hai bò năm trâu mười lợn như thế này thì thánh thần nào chứng. Nhưng để làm gương cho đám chức sắc, ông cũng hài hả đáp :- Thôi được, mấy vị đã nói thế ta cũng giúp cho làng, sau này ai cũng đè đầu cưỡi cổ thiên hạ đều được cả.

Ngay sau đó, Tả Ao ra trước sân đình đặt tróc long định hướng, rồi cắm hướng mới cho ngôi đình. Xong ông cáo biệt đi thẳng. Mấy tháng sau khi đình đã được xoay ngôi đổi hướng, các vị chức sắc kỳ mục không nói cho dân làng nghe chuyện, mà chỉ dặn con cháu ra công đèn sách nay mai ứng thí. Nhưng quái lạ, tất cả đám con trai, từ lớn đến bé hễ cầm quyển sách định học, nhưng học mãi mà chữ nghĩa chẳng vào đầu! Các thầy đồ được mời đến dạy cũng thở dài ngao ngán. Rồi thay vì sách vở bút nghiên, càng ngày càng có nhiều anh con trai con các chức sắc kỳ mục rủ nhau đi sắm hòm đồ nghề thợ cạo, xách đi khắp nơi hớt tóc dạo!

Trong lúc hành nghề, họ tha hồ mà “đè đầu đè cổ” thiên hạ để… cắt tóc, cạo mặt, ngoáy tai…Các cụ chức sắc lúc ấy mới ngã ngửa hiểu ra cái thâm ý của thầy Tả Ao trước đây! Nhưng cũng hiểu rõ, tại họ quá tham lam, chỉ biết tư lợi cá nhân, nên mới bị Tả Ao chơi trác.

Ở tỉnh Đoài có một gã trọc phú thích công danh, chỉ ước cho hai con mình được đỗ đạt hầu vênh vang với thiên hạ. Nhân dịp Tả Ao ghé qua tỉnh, nhà trọc phú bèn túm lấy năn nỉ ông, đặt giúp cho một ngôi mộ làm sao cho hai đứa con được đỗ bảng nhãn, thám hoa rồi được bổ làm quan.

Tả Ao nói :- Nếu ông thực lòng muốn thế thì tôi sẽ giúp, nhưng tôi xin nói thật, để thỏa lòng việc này cũng phải tốn kém lắm!- Tốn kém như thế nào xin ông cứ cho biết, tôi sẽ cố gắng lo liệu – gã trọc phú nói.- Chí ít cũng phải 500 quan tiền. Ông biết đấy, đoạt được bảng nhãn, thám hoa, đâu phải chuyện chơi !Gã trọc phú liền gãi đầu :- Thưa ông, những 500 quan một ngôi mộ… chẳng giấu gì ông, tôi đang gặp cơn đen vận túng, chi những 500 quan một lúc, cũng khá nặng. Xin ông nới tay cho thì tôi cảm ơn lắm!- Thế chí ít ông chi được bao nhiêu quan tiền ?- Chừng 200 quan có được không? Xin ông ra ơn làm phúc, sau này như ý tôi sẽ hậu tạ thêm!- 200 quan thì sao đủ ? Nào phải phân kim, xem hướng long mạch, định huyệt, rồi cúng tế cho ngũ phương, ngũ thổ long mạch thần linh, nào Trạch chúa, Sơn hà hải ngạn chi thần, nào đương niên đương canh mệnh vị thần quân, nào thành hoàng bản cảnh đại vương liệt vị ! Những ngần ấy thứ sao đủ sắm lễ…- Thôi được ! Ông đã có lòng giúp thì tôi cũng vui lòng dấn thêm, ta quyết với nhau 300 quan tiền nhé ! Xin ông bắt tay vào việc ngay cho!- Thôi được! Tôi nể lời ông lắm vì muốn tạo phúc cho con cái.

Tả Ao sau khi nhận tiền xong, sai người đi mua một chiếc tiểu sành. Còn bao nhiêu tiền đem cho những người nghèo khó hết. Hôm sau, dưới sự chỉ dẫn của Tả Ao, gã trọc phú và đám gia nhân bốc ngôi mộ tứ đại chôn vào ngôi huyệt mới. Rồi Tả Ao giao cho gã trọc phú một ống tre, trong đựng một tờ “phép”, dặn phải đúng một năm sau mới được mở ra xem. Nếu táy máy mà giở ra đọc trước, ngôi mộ sẽ hỏng mất thì đừng trách ông. Chưa được một năm, bỗng nhà trọc phú gặp liên tiếp nhiều tai họa, gia sản bị cướp bóc , lại bị thưa kiện, rồi bệnh hoạn. Hai thằng con trai thì đổ đốn bỏ học, đi chơi bời lêu lổng thêm tính nghiện hút. Gia đình lâm vào cảnh cùng quẫn, cả nhà phải xoay ra làm nghề mổ heo đem ra chợ bán kiếm miếng ăn. Mấy cha con hóa thành đồ tể. Đúng ngày Tả Ao dặn, gã trọc phú tán gia bại sản mới giở ống tre ra xem, thì thấy có một mảnh giấy trong đó viết mấy câu sau:Thiếu tiền 3 quan.

Bị giảm 3 phần Bút hóa ra cây xiên (thịt) Nghiên hóa ra thớt. Bảng nhãn thám hoa Hóa ra đồ tể!Đọc xong tờ giấy, cả nhà mới ngã ngửa người ra. Thì ra lúc giao tiền cho Tả Ao, gã trọc phú đã cố tình đếm thiếu 3 quan ! Gã có ngờ đâu hành vi ấy đã làm Tả Ao giận và cả nhà phải lãnh hậu quả quá thê thảm đến như thế!

oOo

Ở một làng có một anh chàng láu cá thượng hạng nhưng thông minh và hiếu học. Hoàn cảnh anh ta thật đáng thương, có người chị gái góa bụa có con thơ, vẫn phải đầu tắt mặt tối nuôi em ăn học. Hai chị em bữa đói bữa no. Anh chàng cảm thấy vô cùng phẫn chí.Bỗng một hôm anh ta nghe tiếng thầy Tả Ao đi qua làng, bèn liều mình đến lạy ông thương xót hoàn cảnh của hai chị em mà gia ân làm phúc. 

Tả Ao thấy anh ta mặt mày khôi ngô, lại tỏ ra con người có chí tiến thủ, bèn nhận lời. Sau khi làm bữa cơm đãi thầy, người chị sụt sùi kể:- Bẩm cụ chẳng may cho hai chị em cháu, cha mẹ đều mất sớm. Em cháu đã cố theo nghiệp bút nghiên, mà không hiểu sao đi thi mấy lần đều trượt. Nay chị em cháu trông cậy vào cụ, xin cụ rộng lòng thương! Tả Ao mới hỏi:- Thế mộ cụ thân sinh của chị đặt ở đâu? Người chị nghe hỏi, càng nức nở khóc rằng :- Thưa cụ, cha mẹ chúng cháu mất từ khi chúng cháu còn quá nhỏ, nên đến nay không còn biết mộ đặt ở chỗ nào nữa! Tả Ao suy nghĩ rồi bảo :- Thôi, cũng không can hệ gì!

Đoạn ông vừa uống rượu vừa chú ý nhìn ra ngoài sân. Chợt phát hiện có một luồng khí trắng từ dưới đất bốc lên, đích thị đó là khí long mạch.Tả Ao liền nghĩ đến phép “táng sống”, một trong những phép vi diệu nhất của môn địa lý phong thủy.

Ông sai hai chị em đào một cái hố ở ngay địa điểm có luồng khí bốc lên, sâu hơn hai thước. Sau đó bảo chàng trai đứng xuống hố, và dặn hễ thấy nóng tới đâu thì phải báo cho ông biết tới đấy. Đoạn Tả Ao đứng ở một chỗ khác, dùng chân dậm lên long mạch, miệng khấn : Bản xứ thổ địa long mạch thần linh, phóng hậu khí vào anh học trò thi cử lận đận. Quả nhiên anh học trò bắt đầu thấy nóng ran từ dưới bàn chân nóng lên đầu gối rồi lên đùi. Anh ta nghĩ rằng chắc càng nóng nhiều và càng lên cao trên mình thì càng tốt. Vì vậy anh ta cố sức chịu nóng.

Tả Ao liền hỏi:- Nóng đến đâu rồi? Anh học trò thấy đã nóng tới đùi, nhưng nói dối rằng :- Thưa cụ, tới bắp chân rồi ạ! Lát sau Tả Ao lại hỏi:- Nóng tới đâu rồi?- Thưa, tới đùi rồi ạ! Tả Ao dậm mạnh chân hơn rồi lại hỏi:- Nóng tới đâu rồi? Thực ra nóng đã tới vai, nhưng anh học trò láu cá lại bảo :- Thưa, tới bụng rồi ạ! Tả Ao lấy làm lạ, tại sao lần này hậu khí lại lên chậm như thế ? Ông lập tức chạy đến chỗ chàng trai, sờ vào người thì thấy nóng đã tới vai. Ông bực lắm quát :- Tại sao đã nóng tới vai mà anh lại bảo mới nóng đến bụng? Anh nói dối thế này rồi sẽ gặp đại họa.

Tôi bảo trước cho anh biết, sau này anh tuy được làm quan nhưng sẽ phải chết bất đắc kỳ tử. Nói xong, Tả Ao vào khoác tay nải đi luôn một mạch. Vừa đi ông vừa hối hận, rằng đã già trên đầu hai thứ tóc còn bị một thằng con nít́ lừa. Giá ông không nhanh trí chạy lại sờ xem thì chắc anh chàng láu cá sẽ chờ nóng đến đầu, ắt sẽ được làm vương. Hiệu quả của sự “táng sống” này thật là mầu nhiệm. Từ hôm đó, anh chàng học một biết mười, chẳng bao lâu chiếm được bảng vàng rồi được bổ làm quan đến chức nhất phẩm. Nhưng về sau trong nước xảy ra loạn lạc, vua sai anh ta cầm quân đi đánh, và bị trúng tên chết liền tại trận.

oOo

Một hôm Tả Ao đang đi bị lỡ độ đường, ông phải vào một làng xin ngủ đỡ qua đêm.Tả Ao đi đã nhiều nơi nhưng không thấy nơi đâu buồn tẻ như cái làng này. Tất cả đàn bà trong làng đều tất bật lam lũ, gồng gánh suốt từ mờ đất cho đến lúc gà lên chuồng vẫn chưa ngơi tay. Họ phải làm hàng xáo (bán gạo thóc), nào đong gạo, phơi phóng, sàng sẩy, phân loại gạo nào ra thứ gạo ấy rồi gánh ra chợ đua tài buôn chín bán mười, lấy tiền nuôi chồng nuôi con. Trong khi các ông chồng lại quanh năm không mó tay vào một công việc gì. Suốt ngày rủ nhau hết rượu chè hút xách, lại cờ bạc thâu đêm suốt sáng.

Tuy làng này đối với ông không có họ hàng gì, nhưng không hiểu sao Tả Ao vẫn không thể nào nhẫn tâm mà bước đi tiếp. Ông nghĩ phải tìm cách kiếm cho bọn đàn ông trong làng một nghề ngỗng gì đó cho họ làm. 

Sáng hôm sau, ông ra quán nước đầu làng ngồi uống nước, gặp ngay vị tiên chỉ. Sau câu chào hỏi làm quen, Tả Ao nói :- Bẩm cụ, tôi là thầy địa lý, hôm nay rảnh rỗi đi xem phong thủy vùng ta hung cát thế nào…Ông tiên chỉ mừng rỡ kêu :- Ối trời đất ơi ! Thì ra cụ là thánh địa Tả Ao đấy à !? 

Lạy thánh mớ bái, tôi thật là được văn kỳ thanh mà bất kiến kỳ hình ! Thưa cụ, xin mời cụ vào trong đình để các vị bản chức trong làng được yết kiến thánh nhan của cụ và xin cho mấy lời chỉ bảo, xem cái lẽ hung kiết của làng ra sao ? Sau nhờ bảo ban cho chúng tôi một lời.

Trước sự niềm nở của ông tiên chỉ, Tả Ao bằng lòng theo ông ta vào trong đình. Ông được các vị chức sắc trong làng thết đãi khá tươm tất. Sáng hôm sau tất cả hương chức cùng nhau dẫn thầy đi xem phong thủy. Nhân tiện, Tả Ao hỏi xem trong làng này có nghề gì phát đạt nhất? Cụ tiên chỉ đáp :- Ấy thưa cụ, trong làng này độc nhất có nhà tôi làm nghề làm cối xay đã lâu. Cái nghề tuy kiếm được đồng tiền bát gạo, nhưng phải cái lao lực chứ không được nhàn hạ.

 Vì vậy mà bao nhiêu tráng đinh trong làng quen dài lưng chẳng ai chịu theo nghề! Tôi cũng rất lấy làm tiếc! Tả Ao nghe xong vừa đi vừa nghĩ, rồi ông lẩm bẩm : “Không chịu theo, lười lao động hả? Rồi ta cho phải theo, phải làm tất!”.

Chợt Tả Ao phát hiện ra một gò đất ở cuối làng, cho rằng có thể làm nên cơ sự ở cái gò đất này.Ông bảo với vị tiên chỉ :- Cái gò này án ngữ ở đây không lợi cho làng ta mấy. Nó cản trở cả phần đinh (sinh con sinh cháu) lẫn phần phú (tiền tài). Vậy phải được cải đổi đi một phần, tất sẽ có lợi.

Các hương chức đều nhất trí :- Cụ dạy thế nào chúng tôi xin thi hành như thế. Được như lời cụ thì thật phúc cho làng quá.Ngay lập tức các tuần đinh được điều động mang cuốc xẻng ra bạt hai dẻo đất phía tả và phía hữu của gò đất, như thể cắt bớt cánh của con chim ưng. Gò đất chỉ còn lại một ụ tròn, hai bên có hai cái tai như tai cối xay gạo.

Thấy lạ một vị kỳ mục lên tiếng thắc mắc hỏi :- Thưa cụ tôi xin hỏi, cứ như con mắt tôi nhìn thì gò đất này bây giờ trông sao mà giống cái cối xay gạo đến thế? Tả Ao cười:- Thưa cụ, sách địa lý đã dạy : “Địa lý bất ngoại địa hình” (địa lý không ngoài hình thể đất đai). Nên sau này về hậu sự, các cụ sẽ thấy sách dạy không sai. Sau khi cải đổi hình thể gò đất xong, Tả Ao cáo bận xách túi đi ngay. 

Các hương chức biếu ông tiền, ông cũng nhất định từ chối.Quả nhiên mấy tháng sau, tình hình trong làng khác hẳn. Các bà vợ đều mang thai hết một loạt. Rõ ràng làng đã phát về “đinh”, nhưng đồng thời vì bận con mọn nên không ai đi bán hàng xáo nữa.Các ông chồng hết còn cơ hội bám váy vợ để hưởng thụ an nhàn, nên cực chẳng đã phải tính cách đi kiếm sống. Ông tiên chỉ cho gọi họ sang mở lò đóng cối, không một ai chê bai gì nữa. Tình trạng rượu chè cờ bạc của cánh đàn ông hầu như tuyệt hẳn. Mà cái nghề làm cối xay này rõ ràng là kiếm ăn được, cối xay làm ra không kịp để bán. 

Các lái buôn từ các tỉnh tín nhiệm thứ cối gỗ mít thượng hạng của làng, đã ùn ùn kéo đến mua cối về bán.Tất cả mọi người ngẫm lại lời của Tả Ao nói ngày trước mà bái phục. Rõ ràng “địa lý bất ngoại địa hình” là cuối làng có một gò đất có hình cối xay, và làng thì lại phát ề nghề làm cối xay, nổi danh khắp thiên hạ!

Cái chết của cụ Tả Ao

Tục ngữ có câu “hàng săng chết bó chiếu” (người làm áo quan chết bó chiếu). Mang câu ấy luận vào Tả Ao thấy rất đúng.Tất cả mọi người đều biết, suốt một đời Tả Ao đã tìm đất đặt mộ cho không biết bao nhiêu người, bao nhiêu làng xã.

Và nhờ có tài siêu việt của bậc thánh nhân phong thủy nơi ông, mà những làng, những người, những dòng họ đã phát đạt, thậm chí sau đó còn truyền tử di tôn cho đến mấy đời con cháu. Cũng vì quá mải mê giúp người, giúp đời, mà Tả Ao bình sinh lấy sự đi chu du giúp thiên hạ là chính, ít khi ở nhà. Chính vì vậy mà cho đến lúc tuổi già, Tả Ao vẫn không rảnh rang được lúc nào để nghĩ tới việc “hậu sự” cho con cháu của ông.

Là thầy địa lý bậc nhất trong thiên hạ mà ông… quên việc chọn cho mình một ngôi đất để sau này con cái táng ông vào đấy, được phát phúc về sau.Mãi đến khi nhận thấy mình sắp sửa về chầu tiên tổ, ông mới gọi con cháu đến bảo, hãy khiêng ông đến ngay một nơi có miếng đất hình “nhất khuyển trục quần dương” (một con chó đang đuổi một đàn dê), mà ông chợt nhớ ra đã có lần để ý đến.

Thế nhưng con cháu khiêng ông mới đi được một đoạn đường thì ông đã thở hắt ra. Biết không kịp đến chỗ đất kia, mà có dặn thì con cháu cũng không biết đường mà lần, ông bèn bảo chúng dừng võng lại bên đường, đoạn gượng quay nhìn một gò đất ngay cạnh đường, rồi chỉ tay mà nói :- Chỗ kia là đất “huyết thực” bất đắc dĩ thì cứ chôn ta vào đây cũng được!

Nói xong, Tả Ao liền tắt thở. Con cháu y lời, táng ông vào miếng đất ấy, đó chính là một cái bờ ao. Cũng vì sự việc này mà người ta gọi Tả Ao là Trạng Bờ Ao. Cũng chính vì vậy nghề địa lý phong thủy của Tả Ao bị thất truyền, vì ông mải mê đi đó đây, đã không tìm ra một đệ tử để chân truyền môn địa lý ông học được từ bên Trung Hoa mang về.

Nhưng Tả Ao hình như đã tiên liệu được điều này, nên trong sách để lại cho con cháu có hai câu thơ :“Đạo cao đức trọng chưng thân Hổ long liên phục, quỹ thần liên kinh” Có nghĩa, có đức trong cuộc sống thì sẽ có phúc, người có phúc sẽ được đất kết, con cháu nhờ đức đó mà vinh hiển (được mọi người kính nể bởi tiếng tăm của cha mẹ để lại). Khi diễn đạt hai câu thơ này, câu Đạo cao đức trọng chưng thân là người có đức có tài, thì rồng cọp (Hổ Long) cũng phải phục (chưng thân, liên phục), quỷ thần cũng tránh xa (quỹ thần liên kinh).Hiểu sâu sa hơn lời của Tả Ao, là làm người phải sống có đạo lý, kính trên nhường dưới, tôn trọng nhân lễ nghĩa trí tín, mọi sự sẽ được tốt lành. Đức không phải từ Thiên Địa (Trời đất) ban, mà chính con người phải tạo ra mới có. Có đức ắt sẽ có đất kết, không cần phải tầm long, định hướng theo phong thủy.

Chúng tôi muốn mượn lời của Tả Ao, một thầy phong thủy nổi danh của nước ta, để kết thúc bài viết này.

Theo Thiên Việt - Thantienvietnam

Posted By Unknown19:31