Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

Phương pháp để có cuộc sống An Vui - Hạnh Phúc

Hạnh phúc cần hiểu đúng[Phật Pháp - Đạo&Đời] Trong cuộc sống ngày nay rất nhiều biến động, vì thế chúng ta ai cũng mong cầu sự Bình An - Hạnh Phúc tuy rất giản dị nhưng sao lại khó như vậy? Bản thân chúng ta, mỗi người điều có định nghĩa và khái niệm về " Hạnh Phúc", " Bình An", " Giàu", " Nghèo", " Sang", " Hèn" khác nhau, đồng thời hoàn cảnh, gia cảnh cũng khác nhau "mỗi nhà mỗi cảnh" nên rất khó để có công thức chung cho chúng ta. Cho nên rất khó để chúng ta tranh luận, hay so sánh, "Ai là người hạnh phúc?" thay vì dùng thời gian để tranh luận, so sánh, chúng ta nên dùng thời gian đó để xây dựng ngay hạnh phúc cho chính mình, áp dụng vào chính gia đình mình. Thời gian không chờ ai cả các bạn ạ!

Với mục tiêu của phong thủy thực nghiệm là tất cả những gì học được phải được ứng dụng  vào cuộc sống thực tế (Học - Hành). Vì thế xin đăng lại đây những bài giảng đơn giản, thực tế, gần gũi với cuộc sống đời thường của chúng ta của Đại Đức Thích Pháp Hòa, các bạn hãy bỏ qua yếu tố khác biệt về tôn giáo.



Giữ vững hạnh phúc - ĐĐ. Thích Pháp Hòa

Tôi muốn hạnh phúc - ĐĐ Thích Pháp Hòa

Sống An Vui - ĐĐ Thích Pháp Hòa

Sống Vui với những gì mình có - ĐĐ Thích Pháp Hòa

Hạnh phúc ở đâu? - ĐĐ Thích Pháp Hòa


Chuyển khổ đau thành An Vui - PS. Tịnh Không

Ba điều giá trị trong đời - ĐĐ Thích Pháp Hòa


Hành trang cho đời - ĐĐ Thích Pháp Hòa


Posted By Unknown17:27

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Làm thế nào phát tài, sức khỏe và hóa giải tai nạn

Pháp sư Tinh Không[Phật Pháp - Đạo & Đời] Sống trên đời này ai cũng mong cầu phát tài, có sức khỏe và không gặp tai nạn nhưng nó tùy thuộc vào số mạng (vận mệnh) của từng người. Nếu chúng ta là những người không có số mạng may mắn (số mệnh tốt) thì phải thế nào? Chúng tôi luôn tìm kiếm các phương pháp để giúp chính mình và thân chủ vượt qua tất cả các khổ nạn, có được sự bình an,... và chúng tôi cảm ngộ được phương pháp để giải quyết tận gốc những khổ nạn và xin đăng lại để giới thiệu với các bạn.


Muốn giàu có phải biết bố thí - Pháp sư Tịnh Không

Để vượt qua tai nạn - Pháp sư Tịnh Không

Để khắc phục được bệnh - Pháp sư Tịnh Không


Nhân quả Giàu & Nghèo - TT.Thích Chân Quang


Tôi muốn hạnh phúc - Thầy Pháp Hòa


Triết Lý về Tiền Bạc - TT. Thích Chân Quang

Posted By Unknown20:41

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Từ đạo Phật nghĩ về cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa

Hình Phật TổĐạo và Đời - Kể từ khi khái niệm "toàn cầu hóa" ra đời, thế giới đã chuyển sự chú ý vào văn hóa. Và chỉ trong một thời gian ngắn, văn hóa truyền thống đã trở thành nền tảng cho mọi sự phát triển bền vững, toàn diện, trong khi trước đó không xa, người ta chỉ xem nó như một nét viền mờ nhạt của kinh tế. Lẽ ra thế giới phải nhận thức về vai trò quan trọng của văn hóa truyền thống từ lâu rồi mới phải. Nhưng vì sao lại có sự chậm trễ này?

Câu trả lời có lẽ không gì khác hơn ngoài sự trả giá của nhiều nền văn hóa, văn minh. Đã có không ít dân tộc "mất tên" trên bản đồ văn hóa thế giới, hoặc thảng thốt nhận ra mình chỉ còn là một nền hóa nghèo nàn, lệ thuộc, thiếu bản sắc... Nếu trong lúc này, chúng ta nói người Việt Nam đang có xu hướng ấy thì rất có thể sẽ bị cho là rơi vào chủ nghĩa bi quan. Tuy nhiên, cái vươn vai thức dậy của kinh tế Việt Nam trong hơn một thập kỷ nay và những tác động tiêu cực đi theo nó không khỏi khiến người ta phải suy tư thêm về khái niệm "phát triển bền vững".


Song song với xu thế toàn cầu hóa là những cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa, văn minh. Khái niệm "đụng đầu" được thay bằng khái niệm "giao lưu, hội nhập", và người ta tuy đã có thể ngồi lại với nhau nhưng nói cho "vừa lòng nhau" là một điều đáng suy nghĩ. Vấn đề không còn nằm ở nội dung nói mà là ở cách nói, cho nên cái "vừa lòng nhau" ấy càng nói càng xa mục đích ban đầu mà nó muốn nói, mục đích đối thoại. Chúng ta cần ý thức rằng, một nền tảng văn hóa thế giới không thể xây dựng trên tư tưởng gây tội rồi xin lỗi, phá huỷ rồi xây dựng, âm mưu giết hại rồi gửi lời chia buồn, hay xí xóa cho xong chuyện...

Người Việt Nam không nên nhớ quá khứ của mình bằng hận thù, song cũng không thể quên đi quá khứ của mình bằng những đồng tiền viện trợ hay những cái lợi trước mắt. Vì sao? Vì quá khứ đau thương của dân tộc phải trở thành một bài học sâu sắc về lòng khoan dung và tinh thần độc lập tự chủ. Từ hiện tại, nghĩ về tương lai và đối xử công bằng với quá khứ đó là cách mà chúng ta nên sống. Sống không phải chỉ nhằm vào mục đích "làm ăn" mà còn vượt qua những nghi kỵ và thù hằn, để nói tiếng mẹ đẻ một cách thân thương, để ghi tâm khắc cốt bài ca dao: "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau"...

Trong lúc nền văn hóa, văn minh của thế giới đang chuyển dần sang thế đối thoại, chúng ta phải nói như thế nào? Và đối thoại có phải chỉ đơn thuần là nói hay không?

Hiển nhiên, đối thoại không hẳn chỉ là nói, bởi các cụ ta từng dạy: "nói là bạc...". Đối thoại còn nằm ở cách chúng ta ăn, mặc, ở, ứng xử... bằng nội lực văn hóa của chính mình. Vậy chúng ta đã ăn, mặc, ở và ứng xử như thế nào? Đối thoại về văn hóa có phải chỉ để "làm ăn" với nhau, để sinh ra cái gọi là "lợi ích vật chất"? Mục đích của đối thoại văn hóa phải cao hơn cái nhu cầu "hầu bao" đó, có như vậy, chúng ta mới có tinh thần minh mẫn để hiểu mình, để tôn trọng lịch sử và sự thật, bằng không chúng ta đã vô tình đưa diễn đàn đối thoại văn hóa cho "những khổng lồ kinh tế" làm chủ. Vấn đề là cho dù hội nhập nào, đối thoại nào cũng cần có thời gian để nghỉ, nghỉ để nhìn lại mình, để ăn, mặc, ở, để quây quần bên nhau quanh chiếc mâm tròn, để hát lên những bài hát ru của mẹ, để gieo vào trong tâm những niệm yêu thương, niệm hiểu biết,..., để sau một giấc ngủ, tỉnh dậy rồi, chúng ta còn biết ngôi nhà của mình vẫn còn nguyên vẹn.

Khi xưa, "con đường tơ lụa" là bước giao thương, giao lưu đầu tiên về văn hóa và kinh tế giữa châu Âu và châu Á. Lúc đó, "con đường tơ lụa" đẹp như chính tên gọi của nó. Cả châu Âu đứng lặng trầm trồ nhìn ngắm và thấy được đằng sau nó là cả một thế giới tâm linh sâu lắng hiền hoà của không ít các dân tộc được sinh ra và được sống trong câu niệm Phật... Và những dân tộc ấy đã đến với phương Tây bằng lụa chứ không phải bằng súng đạn, bạo lực. Cái tinh xảo, khéo léo, hiền hoà không bao giờ làm cho người ta sợ hãi. Thế nên, sự gặp gỡ giữa những cái đẹp của hai phương trời diễn ra như một tất yếu, không cái nào tổn hại cái nào, trong chừng mực của lòng tôn trọng và hiểu biết.

Cũng trong bối cảnh đó, ông cha ta thật tinh tường khi sáng tạo ra thần thoại, cổ tích với một thông điệp lo âu về "cái đẹp bị đánh cắp". Càng giao lưu, càng gần nhau, người ta càng nảy sinh sự so sánh hơn kém, mà ở đâu có so sánh ở đó có chọn lựa. Điều đáng nói là sau khi nhìn ngắm rồi, người ta bắt đầu nhòm ngó, và cũng trong lúc ấy, cái đẹp đã bị "đánh cắp" theo cách riêng của mỗi người. Càng có nhiều người "đánh cắp" thì càng tạo ra nhiều sự cạnh tranh, chia, nhượng, thậm chí là giành giật. Cuối cùng để thoả mãn với nhau người ta buộc phải chia nhỏ cái đẹp ra, và ngay lập tức, cái đẹp bị chà đạp. Vậy ra, mục đích cuối cùng của những bộ óc xâm lăng ấy không phải vì bấy lâu họ qúa thiếu thốn cái đẹp mà vì họ không thoả mãn được cái lợi.


Nhưng nói gì thì nói, cách thức "đánh cắp" mới là vấn đề mà chúng ta cần phải đối thoại với nhau một cách thẳng thắn. Người phương Đông vui vẻ nói với nhau rằng rác là hoa, hoa là rác để tìm cách ứng xử đẹp với cuộc đời. Cụ Nguyễn Du nói: "Hoa tàn rồi lại thêm tươi". Chỉ một câu tin yêu ấy, người ta có thể khóc lên vì sung sướng, sung sướng cho nhiều thế kỷ dân tộc đã sống dậy từ trong đau khổ, thù hận, từ rác, từ bùn, từ tủi nhục,... như thế. Nhưng cho dù sống dậy từ cái gì đi chăng nữa nó cũng phải tươi, phải đẹp, phải khoan dung độ lượng... Vì sao? Vì Bụt bảo khổ đau tương quan với hạnh phúc. Mỗi khi thấy người hiền gặp nạn, Bụt hiện ra và hỏi: "Tại sao con khóc?". Cả dân tộc đã suy nghĩ, lắng nghe cơn gió vô thường ùa về, và nhìn những hận thù tan đi... Cho đến khi tiếng vó ngựa xâm lăng lại hý lên. Bụt lại hiện ra: "Con đừng khóc nữa mà hãy nhìn vào cơn giận của chính mình". Nhưng mọi người không thể không khóc. Và chắc chắn Bụt sẽ bảo: "Con hãy khóc đi, khóc xong rồi con sẽ cảm nhận được thế nào là hạnh phúc, biết khóc là một hạnh phúc, khổ đau là một hạnh phúc, và nếu chưa khổ đau các con hãy khổ đau đi". Và cụ Nguyễn Du lại từ trong tâm thức của Bụt mà nói: "Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa"...

Chúng tôi muốn nói đến Việt Nam như nói đến một cái đẹp thường xuyên bị vùi dập. Một nghìn năm bị vùi dập, một trăm năm bị vùi dập. Bởi thế, chưa lúc nào dân tộc ngừng thao thức: "Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?". Về đâu? Phải trở về quê hương tâm linh để nhận ra minh châu còn ở trong lòng, có như vậy, cái vô giá nhất ấy mới không bị đánh mất. Chỉ có thế mới giữ lòng thủy chung với dân tộc, với cái đẹp, và chỉ có thế "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Hậu thế góp nhặt điều "dông dài" của cụ Nguyễn Du để nói lên điều mình muốn nói. Việt Nam như một "anh nhà quê với cái đầu luôn luôn phải đội nặng", đội nặng một nghìn năm, đội nặng một trăm năm... Vâng đúng như vậy, chúng tôi nói là đội nặng chứ không phải cúi đầu. Bởi Đức Phật đã nói rằng, chúng sinh đều bình đẳng..., Phật không "dỗ nín" ai mà Phật chỉ dùng nhân quả để cân đo thiện-ác.

Hội nhập kinh tế và văn hoá là một tất yếu trong thế giới mà mọi trật tự chỉ là tương đối. Thế nên, trong vô vàn các điều kiện để hội nhập, sự điều chỉnh mình tất yếu phải diễn ra và không phải cái gì cũng khách quan, công bằng...

Hai nghìn năm về trước, Trung Hoa đã tiến hành chiến tranh xâm lược và áp đặt văn hóa lên dân tộc Việt. Một nghìn năm sống trong ách đô hộ, người Việt buộc phải dùng chữ Hán để bổ sung cho cái khuyết điểm mang tính lịch sử của mình, đó là "không văn tự". Nhưng cũng lúc ấy, đạo Phật hiện diện trên quê hương Việt Nam, người Việt đón chờ đạo Phật như đón chờ một người thân xa quê trở về. Người Việt đã tiếp nhận đạo Phật, và cả dân tộc Việt đã gọi Phật là Bụt bằng tiếng mẹ đẻ thiêng liêng của mình. Chúng tôi dùng từ tiếp nhận bởi đó là hệ luận của một cuộc vận động ý thức hệ tư tưởng quan trọng nhằm đối kháng với Trung Hoa.

Kể từ buổi bình minh của dân tộc, đạo Phật đã cùng với dân tộc đội chung khối nặng ấy, và tiếng nói trong trẻo của dân tộc vẫn không ngừng cất lên ngay cả lúc khổ đau nhất. Như một tất yếu, những tranh luận xảy ra trên bình diện ý thức hệ của đạo Phật đã nhóm lên cho dân tộc Việt một hướng đi mới. Và suốt một nghìn năm cùng nói chung một thứ tiếng, đạo Phật đã đi vào cổ tích, huyền thoại của dân tộc Việt, để khi lần đầu tiên dân tộc lấy lại được quyền độc lập tự chủ, chùa Khai Quốc (Mở Nước) xuất hiện, cũng là lúc cả dân tộc xác nhận vị trí, vai trò của đạo Phật trong trái tim mình. "Trời còn để có hôm nay, Vén sương đầu ngõ tan mây giữa trời"(Truyện Kiều), và bài tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc vang lên xua tan giấc mộng xâm lăng của phương Bắc. Kế đến, sự hưng thịnh của dân tộc và đạo Phật thời Lý - Trần đã mở ra một thời kỳ thanh bình, thuần từ, khoan dung nhất trong lịch sử dân tộc.

Trong kỷ thuộc Minh, đạo Phật vẫn gìn giữ mạch chảy tâm linh của dân tộc. Chính vì thế, lý luận Nho giáo đến từ phương Bắc buộc phải vận động cho một cuộc cải cách mang dấu ấn Việt để tồn tại. Càng mang dấu ấn Việt bao nhiêu thì khuynh hướng "cư Nho mộ Thích" càng diễn ra nhanh chóng bấy nhiêu. Không ít những nhà văn hóa tư tưởng, thậm chí những người có thái độ bài xích đạo Phật đã dẹp đi mọi niềm nhân ngã để trở về quy ngưỡng với đạo Phật, yêu kính Phật và niệm Phật. Đều đặn như thế, 108 tiếng chuông chùa vẫn hàng ngày ngân rung trên làng quê Việt Nam, không ngừng đánh thức hồn dân tộc.

Sau kỷ thuộc Minh, sự đô hộ đáng kể nhất của ngoại bang chính là cuộc xâm lăng của thực dân Pháp; cuộc xâm lăng này đã đẩy dân tộc vào giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử. Một thách thức mang tính sống còn khi tiếng súng đại bác và lòng hận thù vung vãi trên quê hương Việt Nam. Lúc ấy, hoạ mi có thể tắt tiếng nhưng câu niệm Phật và tiếng chuông chùa vẫn đều đặn ngân lên, nức nở ngân lên: "Trần kiếp vì đâu oan khổ?"...


Trong các cuộc xâm lăng, vẫn chỉ có thế, cái đẹp luôn luôn bị nhòm ngó và chiếm đoạt. 100 năm mà đau hơn cả nghìn năm, người Việt lang thang đi tìm mẹ Âu Cơ của bốn nghìn năm để không trở thành đứa trẻ mồ côi.

Sau những cuộc đối đầu cực đoan của chính sách "sát tả", triều đình ngày càng trở nên bất lực trước thế mạnh quân sự của thực dân Pháp, Nho giáo tàn lụi theo, lô cốt đi đến đâu thì nhà thờ mọc lên đến đó, và khi đại diện cao nhất của triều đình bán nước nhà Nguyễn chịu phép rửa tội thì cũng là lúc những người Việt Nam thiết tha với dân tộc cảm thấy mình có tội, không phải là "tội tổ tông" mà là tội với anh linh dân tộc.

Người Pháp vui mừng vì Nho giáo không đánh cũng tan, vậy điều gì còn lại khiến họ lo lắng? Ở phạm vi quân sự, các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ chưa đủ để người Pháp lo lắng, bởi lúc đó họ đã có tay sai đắc lực là triều đình đối phó. Người Pháp tuy mới đến Việt Nam nhưng cũng hiểu sâu sắc thế nào là câu "mỡ nó rán nó", ngon lắm. Có không ít người Việt cũng thấy ngon khi ăn thứ mỡ ấy, nhưng ăn mỡ nhiều thì rất dễ bị tắc tiếng.

Vì sống quen với "nhạc trời" nên điều mà người Pháp cảm thấy khó chịu, bất an nhất có lẽ không gì ngoài tiếng chuông chùa và câu niệm Phật, cứ thế, như cỏ mọc, dai dẳng và bất trị. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, chùa chiền lại trở thành nơi lý tưởng để xây cất nhà thờ. Đau xót biết bao, những ngôi chùa đã nghìn năm sống trong tâm thức dân tộc bị tàn phá không thương tiếc, điều mà Nho giáo khi xưa dù có cực đoan đến đâu cũng không bao giờ đối xử với đạo Phật như thế. Nhưng cũng chính trong cơn vô thường ấy, đạo Phật đã hóa thân vào cuộc sống. Phong trào duy tân của hai nhà trí sĩ họ Phan như một luồng gió mới thổi vào tinh thần yêu nước của toàn dân tộc. Các cụ đã thống thiết kêu gọi "bài Nho hưng Phật", và tình nguyện từ bỏ hệ tư tưởng mà mình đã theo đuổi suốt cuộc đời, để tìm đến đạo Phật, mong rằng tiếng chuông tỉnh thức của Phật có thể gội sạch những linh hồn lầm lỗi như hàng nghìn năm trước Bụt đã làm. Trước đó, ở phía bên kia biên giới, trong phong trào duy tân, Lương Khải Siêu cũng đã kêu gọi "bài Nho hưng Phật". Rất có thể sự kiện này sẽ là một "mâu thuẫn" khó có lời giải, bởi khi chưa đối mặt với phương Tây, Phật giáo đã từng bị bỏ quên, thế mà bây giờ nó lại trở thành một sự lựa chọn "mới".

Không lạ sao được khi đạo Phật Việt Nam lúc này không có đại bác, súng ống hiện đại, không có quyền lực, tiền của hậu thuẫn... chỉ có những pho tượng Phật lặng ngồi ngắm nhìn dòng chảy vô thường trôi đi, trôi đi; chỉ có những tiếng chuông chùa, câu niệm Phật; chỉ có giọt lệ bi tâm trong những đêm thiền truyền đời nhỏ xuống... Vậy người ta chọn đạo Phật để làm gì? Phải chăng ở tầm văn hóa, đạo Phật chính là nguồn nội lực văn hóa tâm linh của dân tộc trong suốt hơn hai nghìn năm hội tụ? Có thể người ta đã nhận ra tinh thần vô ngã, khoan dung, bất bạo động của Phật giáo chính là tấm gương phản chiếu, nhìn vào nó quân xâm lược như nhìn vào kính chiếu yêu, nhưng tấm gương ấy không phải để chiếu ra quỷ, ra yêu mà để con người có cơ hội nhìn thấy mình còn là con người đúng nghĩa.

Phong trào chấn hưng Phật giáo ra đời, vượt ra khỏi chủ ý "nhân văn mị dân" của thực dân Pháp sau những vụ cướp phá chùa chiền và huỷ hoại di sản vật thể và phi vật thể của dân tộc. Mạch nước ngầm văn hóa tâm linh của dân tộc một lần nữa lại được Phật Mẫu Man Nương điểm huyệt, hồn thiêng sông núi và câu niệm Phật thân thương từ nghìn xưa vọng về trong bom đạn, khổ đau và tủi nhục. Nghìn năm trước, người tăng sĩ đã bước lên đỉnh núi hét một tiếng dài làm lạnh cả thái hư, nghìn năm sau chiếc y vàng phải trải qua không ít lần tắm máu, nhưng câu niệm Phật và lòng khoan dung thì không bao giờ thay đổi. Những "cô tấm-sinh viên" lại ngồi chụm đầu vào nhau mà khóc, khóc vì bị dì ghẻ ghét ghen, hãm hại. Và Bụt lại hiện ra: "Con hãy đi tìm cái đẹp từ trong đống tro tàn của thù hận kia". Khi Bồ tát Quảng Đức hoá thân, giọt lệ bi tâm của cả dân tộc đã dồn tụ lại thành trái tim bất diệt. Lửa khoan dung, bất hại cháy lên, hồn dân tộc sáng bừng trong tỉnh thức. Phật giáo Việt Nam - dân tộc Việt Nam nhập vào làm một, và trái tim của mọi miền đất nước, của thế giới yêu hòa bình đều cùng nhau thổn thức. Nói như thi sĩ Vũ Hoàng Chương: "Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt, Nhìn nhau tình huynh đệ bao la...".

Không hiểu sao, cho đến hôm nay, trong những cuộc đối thoại giữa các nền văn minh, văn hoá Á - Âu, lại có người cho rằng "Nếu nói cho đủ thì trong tiến trình lịch sử của mình, Việt Nam lại còn có cơ hội tiếp cận (vì lý do chiến tranh và ý thức hệ) với nhiều nền văn minh..." và "Chiến tranh thật khốc liệt với nhiều tội ác và thương tích nhưng đó là một thế kỷ đủ giúp Việt Nam bứt ra khỏi cái thế giới Trung Hoa truyền thống không chỉ về chính trị mà quan trọng hơn là sự tiếp nhận những giá trị văn của văn hoá phương Tây, trở thành một phần di sản và bản sắc của văn hóa Việt Nam hiện đại". Sao lại có thể nhận thức kiểu "không vỏ dưa thì vỏ dừa" như thế.

Chiến tranh là một nguyên nhân, một cơ hội làm cho dân tộc chúng ta đẹp như hôm nay sao? Nói cho "vừa lòng nhau" như thế thì đau lắm. Con đường tơ lụa mà Âu - Á khi xưa gặp nhau không có chiến tranh mà vẫn đẹp. Đành hanh một tí mà nói thì kết quả tất yếu của một hệ suy như vậy sẽ dẫn đến quan niệm "không có chiến tranh (đặc biệt là chiến tranh của Pháp) có lẽ người Việt vẫn còn ăn lông ở lỗ trong cõi mù mờ nào đó...". Nếu chiến tranh có thể mang lại nhiều cái đẹp cho dân tộc ta như thế thì quả thật việc khát khao hòa bình chỉ còn là chuyện hết sức vớ vẩn. Có thể có cái đẹp nào mà không có chiến tranh không? Hiển nhiên là có. Có sự giao lưu nào không cần đến chiến tranh không? Hiển nhiên là có. Đạo Phật và dân tộc Việt đã gặp nhau và thương nhau là một minh chứng. Nếu lúc này thế giới chưa thể tìm lại được cái điều hiển nhiên ấy thì chúng ta cũng không thể nhận thức văn hóa theo kiểu hãy "đưa trứng vịt cho gà ấp" để kết quả sẽ nở ra những con vịt cứ nhận lầm gà là mẹ..., đau đến tức cười.

Có thể nói, sự hội nhập văn hoá, văn minh cần thiết nhất cho hạnh phúc con người phải là sự hội nhập tình nguyện và tự nguyện, không phải vì lý do ép buộc, nhân nhượng, đánh đổi, bằng chính trị, quân sự, kinh tế, "hôn nhân"... càng không thể vì lý do chiến tranh. Nếu không nhận thức một cách đầy đủ về vấn đế này, mọi người dù có ngồi lại thảo luận với nhau trên triệu triệu trang giấy thì thế giới cũng vẫn chỉ là một nền văn hóa, văn minh bị "những người khổng lồ" thao túng. Khi xưa các cụ ta đã sáng tạo ra biểu tượng "tri hành hợp nhất" bằng hình ảnh Phật Bà nghìn mắt nghìn tay và hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm ứng đủ muôn thân để độ chúng sinh viên mãn, là các cụ ta đã gửi gắm ý nghĩa đầy đủ nhất của sự thống nhất trong đa dạng. Đó cũng chính là lý do để đạo Phật - nền văn hoá tâm linh của dân tộc, tiếp xúc, đối thoại 1.000 năm với Trung Quốc, 100 năm với phương Tây mà vẫn đứng vững và trở thành thành tố quan trọng của văn hoá dân tộc. Từ thực tiễn sinh động đó, chúng ta tin rằng Đạo Phật có khả năng cùng với dân tộc đối thoại với bất kỳ nền văn hoá, văn minh nào ngay cả trong những lúc tưởng chừng như im lặng...

Tác giả: Thái Nam Thắng (Tạp chí VHPG)

Posted By Unknown19:29

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

Tâm linh: Cúng bố thí chúng sanh hàng tháng mùng 2, mùng 16 và rằm tháng 7 Lễ vật và bài văn khấn

[Phong thuỷ tâm linh] Cúng bố thí chúng sanh - cúng thí thực (dân gian thường gọi là cúng Cô hồn). Thường thường Ông Bà ta hay cúng vào ngày mùng 2 và 16 âl mỗi tháng, là một lễ nhỏ, còn rằm tháng 7 là lễ lớn (Vu Lan). Cúng bố thí chúng sanh không phải là một sự mê tín như bao nhiêu người đã lầm tưởng. Bởi vì, ở thế kỷ 21 này các nhà Ngoại Cảm trên thế giới và Việt Nam đã minh chứng được có thế giới của người chết, có linh hồn tồn tại ở cõi âm mà sự rung động và cảm xúc như người sống của chúng ta!

Cúng bố thí chúng sanh - cúng thí thực (cúng Cô Hồn) đó là một hành động bố thí, từ bi bác ái, muốn chia sẻ sự đau khổ cho các chúng sanh thiếu phước, thường bị đói khát triền miên, bơ vơ, sống vất vưởng, lang thang đã từ lâu không siêu thoát và nhất là không được người thân quyến cúng kiến. Bài này sử dụng được cho rằm tháng bảy âm lịch, và cũng là dùng để cúng bố thí chúng sanh lúc nào cũng được, tức là dùng để cúng hàng tháng vào mùng 2 và mùng 16 âm lịch tại miền Nam, mùng 1 và rằm tại miền Trung và Bắc.


Vài điều lưu ý:
  1. Xin nhớ là đặt lễ cúng ngoài hành lang, chứ không cúng trong nhà
  2. Quý vị cứ y theo bài văn khấn mẫu bên dưới mà đọc, cúng SAU 12 GIỜ TRƯA, (vì từ khi mặt trời mọc đến 12 giờ trưa là giờ dương khí, còn sau 12 giờ trưa đến khuya là giờ khí âm ). Chúng tôi ghi rất rõ.
  3. Quý vị  nên in lại bài nầy trong tờ giấy (nếu sử dụng thường xuyên), rồi nhìn đọc cho đúng, nhất là các câu Thần chú.
  4. Các phẩm vật cúng bố thí chúng sanh, tuyệt đối không được dùng tới, phải bỏ đi hay là cho súc vật ăn. 
  5. Tàn 2/3 nhang , đốt giấy , rải gạo, muối.
Lễ vật & đồ cúng cần chuẩn bị (cho rằm tháng 7 âm lịch đầy đủ , còn hàng tháng đơn giản hơn từ mục 1>5 ):
  1. Nước : 3 chun (hay 3 ly nhỏ ), 3 cây nhang , 2 ngọn nến nhỏ. 
  2. Gạo, muối hột .( chút ít, không được bỏ gạo nhiều vì ở thành phố không có chim ăn gạo). 
  3. Cháo trắng nấu lỏng ( 12 chén nhỏ hoặc tô cháo lớn ) , hay là cơm vắt : 3 vắt . 
  4. Giấy áo, giấy tiền vàng bạc ( chút ít, đại khái thôi, không nên có nhiều, lãng phí ) 
  5. Bánh, kẹo
  6. 12 cục đường thẻ
  7. Bắp rang
  8. Mía (để nguyên vỏ và chặt tùng khúc nhỏ độ 15 cm )


Quý vị nên cúng chay thì tốt hơn (vì chúng sanh không đòi hỏi ta phải cúng chay hay mặn, tuỳ tâm của quý vị, cũng không nên cầu kỳ phài cúng cho giống người khác) Điều quan trọng là: phải đọc Thần chú và niệm Phật cho đúng và đủ, thành tâm, mong cho chúng sanh an vui và no . Gạo, muối, cháo, không cần nhiều. Nhờ có chú biến thực là đã biến hoá được hàng hà sa số thực phẩm rồi .(Theo Sư Ông Thích Thông Bửu , cô hồn rất thích bắp rang và mía ) . 

VĂN KHẤN NGUYỆN:

1. Tịnh pháp giới chân ngôn : ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM ( 7 lần ) 

2. Chân ngôn phá địa ngục : ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA .( 7 lần ) 

3. Chân ngôn biến thực : ( biến thức ăn cho nhiều ) 

NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA, NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG .( 7 lần ) 

4/ Chân ngôn Cam lồ thủy :( biến nước uống cho nhiều ) 

NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA. ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA .( 7 lần ) 

Con tên ...tuổi...ngụ tại (thường trú hay tạm trú ) số nhà ..., phường (xã)..... , quận (huyện )....

Hôm nay ngày ...tháng ...năm.... Thành tâm kính mời các chư vị khuất mặt, khuất mày, kẻ lớn, người nhỏ , thập loại chúng sanh, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, oan gia trái chủ, tai nạm đường phố, vô gia cư...về nơi đây hưởng lộc thực đầy đủ...và cùng với chúng con niệm Phật cầu vãng sanh :
  • NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ( 10 lần , hay nhiều hơn nữa ) 
  • NAM MÔ ĐA BẢO NHƯ LAI (10 lần) 
  • NAM MÔ BẢO THẮNG NHƯ LAI ( 10 lần) 
  • NAM MÔ QUẢNG BÁC THÂN NHƯ LAI (10 lần ) 
  • NAM MÔ DIỆU SẮC THÂN NHƯ LAI ( 10 lần) 
  • NAM MÔ LY BỐ UÝ NHƯ LAI (10 lần) 
  • NAM MÔ CAM LỒ VƯƠNG NHƯ LAI . ( 10 lần )
  • NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT. (10 lần)
( Sau đó quý vị cầu bình an cho gia đình mình ...hay muốn cầu gì cũng được, tuỳ ở sự thành tâm ) .

Giải thích ý nghĩa của thần chú : Thần chú là mật chú của chư Phật, khó có thể trình bày, chỉ trình bày đại ý dùng sự.

1. ÔM LAM, ÔM SĨ LÂM: 
Thế giới ta bà nầy rất dơ uế, muốn Chư Thiên cõi trên chứng giám, hoặc các chúng hửu tinh thọ dụng thức ăn, chúng ta bắt buộc phải tụng chú nầy .Trì chú nầy thân, tâm, cảnh vật đều được thanh tịnh, sạch sẽ. Nếu ai đọc tụng chú nầy sẽ được ba nghiệp trong sạch các tội chướng đều tiêu tan, các công đức hết thảy thành tựu.

2. ÁN GIÀ RA ĐẾ DẠ, TA BÀ HA : 
Khi tụng Thần chú phải quán tưởng tiếng đọc chú và uy lực cũng như hào quang Đức Phật đều soi khắp thấu đến các địa ngục mười phương, ở tất cả địa ngục đều được cởi bỏ xiềng xích, các tội nhận được dứt nghỉ khổ não. 

3. NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA NGA ĐÀ, PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ, ÁN TÁM BẠT RA, TÁM BẠT RA HỒNG : 
Niệm chú nầy cho các món ăn đều được mùi vị cam lồ rất thơm ngon, lại biến rất nhiều hàng hà sa số , đầy đủ cho các ngạ quỷ no đủ, ăn rồi được siêu sinh, khiến cho hành giả tiêu trừ nghiệp chướng, thọ mạng sống lâu. 

4. NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA ĐÁT ĐIỆT THA, ÁN, TÔ RÔ TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ, TA BÀ HA. 
Tụng thần chú nầy khiến cho nước nhiều như biển cả, biến thành màu sửa cam lộ, mở rộng cuống họng như cây kim, tất cả Ngạ Quỷ đều được cùng ăn uống với nhau vui vẻ. 

5. CHÚ ÁN THỔ ĐỊA : NAM MÔ TAM MÃN ĐA MỘT ĐÀ NẪM , ÁN ĐỘ RÔ, ĐỘ RÔ, ĐỊA VĨ TA BÀ HA . 
Khi tụng chú Đại Bi, hoặc tụng kinh ở nhà , quý vị phải nhớ là phải tụng chú nầy. Lý do là ông Địa và ông Thần Tài là hai vị thần nhỏ, khi ta tụng niệm, nhất là chú Đại Bi các chư Thiên chư Thánh mặt mày trang nghiêm , thân hình to lớn , bệ vệ, râu tóc dựng ngược...Các vị Thần nhỏ của chúng ta thấy khiếp sợ bỏ chạy...Khi hết tụng, các vị trở lại , nhưng lòng buồn (Thần còn sân ), ta sẽ bị ảnh hưởng không tốt. 

Ta đọc Thần chú nầy, có nghĩa :" xin hai ông an tọa, hoan hỉ , đây là chư Thiên ..."

Phật tử Từ Tâm Đạo sưu tầm :
- Mông Sơn thí thực ( kinh Phổ Môn ) 
- Nhà sư Thích Năng, tác giả của sách kinh "Căn nguyên và công dụng các loại Thần Chú ". 

********

CÚNG VONG THAI (CHẾT NON, HƯ THAI, KẾ HOẠCH HÓA ...)

( vào mùng 2 âm lịch hay mùng 16 âm lịch : 1 ngày trong tháng, cúng trong nhà, để trên cái bàn nhỏ, không được đặt trên bàn thờ.)

Lễ vật: & đồ cúng cần chuẩn bị:
  1. Gạo, muối.
  2. Bánh ngọt loại ngon ( không phải loại cúng cô hồn ) .
  3. Kẹo sô cô la.
  4. 3 chun nước .
  5. Môt bộ quần áo giấy của trẻ nhỏ , cặp, sách, bút , tập cũng bắng giấy, kèm theo tiền, vàng .
VĂN KHẤN NGUYỆN:

1. Tịnh pháp giới chân ngôn : ÔM LAM, ÔM SỈ LÂM . ( 7 LẦN )

2. Chân ngôn biến thực : NAM MÔ TÁT PHẠ ĐÁT THA NGA ĐÀ PHẠ LÔ CHỈ ĐẾ , ÁN TÁM BẠT RA , TÁM BẠT RA HỒNG 

3. Chân ngôn biến thủy : NAM MÔ TÔ RÔ BÀ DA, ĐÁT THA NGA ĐA DA, ĐÁT ĐIỆT THA , ÁN TÔ RÔ, TÔ RÔ, BÁT RA TÔ RÔ , TA BÀ HA. ( 7 LẦN ) .

Hôm nay là ngày ... tháng ...năm..., con tên là ...tuổi... ngụ tại số ...phường...quận...con xin Thổ Công, Thần Tài, Thổ Địa , cho phép con cúng lễ cho ấu nhi hữu danh vô vị, hữu vị vô danh (súc sảo)

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (10 LẦN ) 
NAM MÔ QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT (10 LẦN )
NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT (10 LẦN )

....Vái vong hồn hữu danh vô vị, hữu vị vô danh , mẹ mời ấu nhi cậu Trạng (hay đồng cô ) về đây hưởng lễ mẹ cúng, gồm các bánh kẹo, quần áo bạc tiền , sách vở . Ấu nhi hãy thọ nhận rồi theo Cha Mẹ Bề Trên mà tu học, độ trì cho cả nhà ta vạn sự may mắn tốt lành , tài lộc dồi dào ....Ấu nhi hãy vui vẻ thông cảm cho ba mẹ vì hoàn cảnh thế gian mà không thể bảo vệ cho con được , từ đây, biết có con cha mẹ sẽ lo cho con..


Vài lưu ý quý vị
  1. Tàn 2/3 nhang , đốt giấy , rải gạo, muối.
  2. Bánh kẹo không bỏ, chia nhau cả nhà dùng , để có lộc cậu (cô) .
  3. CÚNG TRONG NHÀ, để trên cái bàn nhỏ, không được đặt trên bàn thờ. 
  4. CÚNG SAU 12 GIỜ TRƯA .
********

Câu chuyện này dành cho các bậc cha mẹ đã lầm lỡ, hay vô tình bị hư thai không biết:

Trong sách Địa Ngục Du Ký, có nói về những đứa bé vì nhiều lý do khắc nghiệt của hoàn cảnh cha mẹ chúng, mà không thể cho ra đời.

Sự thật, không phải là xong rồi, khi đã được kế hoạch hóa. Một linh hồn được tồn tại cõi âm và luôn luôn hiện diện trong nhà , bên cạnh cha mẹ và anh chị em, mà mắt thường chúng ta không thấy được. Chúng cũng lớn lên, cũng đòi hỏi và ganh tị giận hờn ...Bởi vậy, chúng tôi thường nghe kể lại với những giấc chiêm bao, những chuyện nóng nảy bực mình trong nhà mà không biết nguyên nhân? ấy là sự phá quấy của đứa trẻ. 

Muốn giải quyết điều nầy thì nên cúng cho chúng đầy đủ như trên và thường xuyên niệm Phật ( NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ) khuyên chúng đi tu học .

Cha mẹ nào cảm thấy hối hận ăn năn ,việc làm đáng tiếc của mình , vì không cho một sinh mạng được làm người, thì nên : 
  • Niệm Phật , làm từ thiện , bố thí , phóng sanh, cúng dường ...
  • Hồi hướng công đức cho bé được siêu thoát .
  • Một lần lầm lỡ, không nên tái phạm, và cản ngăn, giúp đỡ kẻ lâm vào tình trạng bế tắc như mình khi xưa.

Sưu tầm: Phong thuỷ thực nghiệm

Posted By Unknown07:38

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Phong thủy và Vận Mệnh - Pháp sư Tịnh Không

Xem phong thủy - Trong quá trình thực hành phong thủy chúng tôi chiêm nghiệm được rất nhiều vấn đề trong đời sống thực tế, sự chứng nghiệm về Phong thủyVận Mệnh có một sự tương thông rất rõ rệt, ví như: "Nếu như phong thủy xấu, mà mệnh tốt, vận mệnh tốt hoặc có đức tốt sẽ vượt qua" và/hoặc "Khi vận mệnh suy, thì đa phần chúng ta ở vào những khu vực có phong thủy suy" và còn rất nhiều đều huyền diệu mà chúng tôi mong được khám phá. Và chúng tôi ngộ ra được các câu nói được truyền miệng trong dân gian: "Đức năng thắng số"; "Ăn ở có Đức, mặc sức mà ăn",..v.v... Lấy Đức làm gốc, ta sẽ bình an.

Mặc dù chúng tôi biết rất rõ phong thủy không phải mê tín, mà là khoa học liên hệ giữa môi trường sống và con người, nhưng chúng tôi không chủ trương, và cổ vũ cho Mê tín dị đoan. Nhưng có một sự huyền diệu  trong phong thuỷ rất đáng được nghiên cứu, chiêm nghiệm mà khoa học chưa chứng minh được.


Khi chúng tôi trao đổi với những bậc chân tu, bậc tiền nhân ngoại cảm, huyền di, vô vi về những nghiệm chứng phong thủy của chúng tôi, đều có những kết quả tương đồng. Và khi chúng tôi có nhân duyên xem được bài giảng của Pháp sư Tịnh Không và đồng cảm ngay với bài giảng này, thật thú vị. Vì thế chúng tôi đăng lại tại trang nhà giới thiệu đến các bạn đọc giả.

Phật giáo là giáo dục "Không phải là tôn giáo cũng không phải là triết học".


Posted By Unknown02:09