Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Xem phong thủy đất Kim Long cát tường của chúa Nguyễn

Ảnh Gia Tiên - Một Thế Giới
[Xem phong thủy] Là một cuộc đất cát tường về mặt phong thủy, Kim Long được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong suốt nửa thế kỷ. Là một cuộc đất “sơn thủy hữu tình”, Kim Long còn nổi tiếng có nhiều mỹ nhân, mà đến nay hãy còn để lại câu ca: “Kim Long có gái mỹ miều – Trẫm thương trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi”…50.


Quốc sử quán triều Nguyễn chép: vào năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan (tức chúa Thượng) thấy đất Kim Long là nơi “có địa hình tốt đẹp” nên đã dời dinh đến đó và Kim Long trở thành thủ phủ đầu tiên đóng bên bờ tả ngạn sông Hương. Nhìn qua bên kia hữu ngạn thấy đồi Long Thọ hiện lên với thế núi đặc thù “khóa giữ thượng lưu sông Hương và được các nhà địa lý gọi là kiểu đồi “thiên quan địa trục” – nghĩa là trổ cửa lên trời và là trục xoay của các vùng đất (Đại Nam nhất thống chí).

Địa thế phong thủy ấy cũng được học giả Cadière ghi nhận khi ông đứng từ kinh thành Huế nhìn xa xa tới đường chân trời phía nguồn sông Hương thấy những ngọn đồi và đỉnh núi dãy này nối tiếp dãy kia trùng điệp vắt ngang tầm mắt, màu sắc thay đổi theo từng ngày nắng, ngày mưa, khi thì nâu nhạt, lúc xanh thẫm, tựa hồ bức tranh bốn mùa sinh động.

Giữa bức tranh cẩm tú mênh mang ấy là một con sông chạy đến gần đất Huế, trải mình ra giữa hai ngọn đồi: “một bên là ngọn đồi Thiên Mụ (Hà Khê) với tháp Phước Duyên, bảy tầng ngất ngưỡng như chọc thủng trời xanh để đưa xuống những nguồn phúc lộc, và bên kia hữu ngạn là mô đất Long Thọ – trường sinh bất tử. Mô đất này cũng có những đặc tính nhiệm màu kỳ lạ mà sau này các thầy địa lý của triều đình Việt Nam cũng công nhận. Vì nó án ngữ nguồn chảy của sông Hương, tưởng như nó đang gối đầu lên dòng nước và nghiêng nghiêng đối diện với đồi Thiên Mụ tạo thành một thế phong thủy gọi là cánh cửa thông thiên và trục xe địa phủ” (Đỗ Trinh Huệ dịch).

Ảnh tư liệu sơ đồ phủ Kim Long - Một thế giới
Sơ đồ thủ phủ Kim Long, Huế

Như vậy, đồi Long Thọ (hữu ngạn) cùng đồi Hà Khê (tả ngạn) nhô lên khỏi đất bằng để ôm lấy dòng nước sông Hương đang êm đềm đổ xuống, tạo nên cảnh trí thơ mộng cho các vùng đất hai bờ, trong đó có Kim Long. Xét sách địa lý gia truyền của cụ Tả Ao, thì: có núi mà không có nước sẽ thành cảnh “cô sơn” – ngược lại có nước mà không có núi sẽ thành “cô thủy” (Hữu sơn vô thủy, vị chi cô sơn – Hữu thủy vô sơn, vị chi cô thủy).

Tốt nhất vừa có núi vừa có sông nước liền nhau để núi nghênh thủy (sơn cố thủy) và thủy in bóng núi (thủy cố sơn) mới thật là đất tốt (dung kết chi địa dã). Vậy Kim Long có đủ yếu tố “sơn thủy” như cụ Tả Ao nêu. Mà thủy ở đây với thế “tĩnh” và “tụ” nên sinh ra người trong vùng thanh lịch, giàu có (thủy tĩnh nhân tú - thủy tụ nhân phú) khác với chỗ nước xoáy xô bồ ào ạt, hoặc nước chảy rì rào như tiếng khóc tỉ tê suốt ngày sẽ sinh ra kẻ bần tiện, đói nghèo (thủy trọc nhân mê – thủy khứ nhân bần).

Thật vậy, cuộc đất Kim Long từ khi trở thành thủ phủ. Sau này, khi thủ phủ dời về Phú Xuân (cũng nằm bên tả ngạn sông Hương), Kim Long vẫn để lại các tên đất gợi nhớ thời lập phủ như: Thượng Dinh, Trung Dinh, Hạ Dinh, Cồn Kho, Mô Súng, vườn Nghênh Hôn … Và vua Thành Thái đã đến đó góp một trang “tình sử”.

Mối tình của vua Thành Thái.

Vua Thành Thái là một ông vua yêu nước bị thực dân Pháp quản thúc ở Vũng Tàu (từ 1907), đày sang đảo Réunion 31 năm (từ 1916 – 1947). Ngày còn tại vị, vào những năm 1889-1907, nhà vua rất gần gũi dân chúng, hay cải dạng thành thường dân để rời hoàng cung ra ngoài thành.

Có lần dạo qua vùng Kim Long, vua bước xuống bến sông gọi đò về, chợt thấy cô lái đò là một cô gái má hồng như màu cánh sen, dáng bộ tha thướt dẫu ở chốn bình dân mà xem có bề quý phái, ngay lập tức “tiếng sét” vô thanh đã đánh trúng trái tim của hoàng đế. Rồi trong bộ dạng của một “thanh niên bình thường”, vua Thành Thái đến bên thiếu nữ hỏi: “O kia, có ưng làm quý phi không?”.

Sau giây phút thẹn thùng và ngỡ ngàng trước câu hỏi lạ, cô bỗng mạnh dạn trả lời : “Ưng !” (đồng ý). Cô ngỡ trả lời bâng quơ như thế cho có, cho xong, ai ngờ chàng “thanh niên” liền đến đầu mũi thuyền giành lấy mái chèo nói: “Hãy để trẫm chèo đưa quý phi đi”. Rồi vua chèo đò xuôi dòng nước đến đậu trước Phu Văn Lâu, lên bến Nghinh Lương, đưa cô vào hoàng cung, đến vườn thượng uyển, khiến cô bàng hoàng như đang “mộng dưới hoa”…

Vua Thanh Thai - Ảnh tư liệu_Một Thế Giới
Chân dung vua Thành Thái

Cạnh đó những cuộc tình dân gian ở Kim Long cũng đã đi vào ca dao với bao lời da diết:“Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn. Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long. Sương sa gió thổi lạnh lùng. Sóng xao trăng lặn, chạnh lòng nhớ thương”. Hoặc: “Kim Luông dãy dọc tòa ngang. Em chèo một chiếc thuyền nan về Sình. Đôi lứa mình lỡ hẹn ba sinh. Có mần răng đi nữa cũng hãy trọn tình với nhau”. Mấy tiếng “dãy dọc tòa ngang” nhắc nhớ đến vùng đất xưa lúc Kim Long là thủ phủ của chúa Nguyễn.

Alexandre De Rhodes với thủ phủ Kim Long.

Địa thế phong thủy cùng tài năng chúa Nguyễn đã đưa Kim Long thành trung tâm hành chính, quân sự của đất Nam Hà một thời. Để tìm hiểu điều ấy, thiết tưởng chúng ta hãy xem qua những ghi chép khách quan của người châu Âu đương thời từng đến đó. Chúng tôi muốn nhắc đến học giả, nhà truyền giáo dòng tên (Jésuite): Alexandre de Rhodes – đã có mặt tại Kim Long khoảng những năm 1640 – 1645 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan.

Ông là tác giả cuốn Từ điển Việt – Bồ – La, biên soạn sau ngày đến Kim Long, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa của người Việt thế kỷ 17. Chính ở Kim Long, Alexandre de Rhodes yết kiến chúa Nguyễn Phúc Lan và tận mắt nhìn thấy sinh hoạt trong phủ chúa cũng như ngoài dân chúng và kể lại trong một cuốn sách xuất bản tại châu Âu.

Trong tác phẩm đó, ông mô tả quang cảnh Kim Long như một “thành phố lớn” (cette grande ville) với đông đúc dân cư, nhà cửa, phố xá, chợ búa, bến nước và buổi lễ đón tiếp những người Tây Ban Nha, những nữ tu và ông vào buổi chiều tháng 2.1645 bên bờ sông Hương: “Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) và phu nhân trong trang phục quý phái, lộng lẫy cùng đông đảo các vị quan lớn trong phủ Kim Long có mặt tại buổi đón tiếp.

Có ngót 4000 lính chia làm 4 đội sắp hàng chỉnh tề, khéo léo, không che khuất chỗ chúa Thượng và phu nhân đang đứng. Những đội cận vệ đứng sát để bảo vệ chúa, ai nấy đều cầm trong tay một thanh đao có gắn chuôi bằng bạc và mặc áo bằng nhung màu tím có thắt đai vàng ngang bụng, đứng nghiêm chỉnh và im phăng phắc. Khi đoàn Tây Ban Nha đến, chúa cho phép hết thảy binh lính của mình ngồi xuống đất, xếp bằng lại để buổi lễ bắt đầu. Chúa sai mang đến cho mỗi người một phần trà đựng trên các khay sơn son thếp vàng bóng loáng”.

Chúa Thượng cũng mời Alexandre de Rhodes và những người trong đoàn bữa tiệc theo cung cách cung đình với rất nhiều món ăn sang trọng. Yến tiệc được bày ra với các vũ nữ Kim Long vây quanh biểu diễn các điệu múa điêu luyện khiến những người Tây Ban Nha có mặt phải trầm trồ khen ngợi. Mãi đến khi trời sập tối, chúa ra lệnh thắp đuốc sáng rực khắp dinh. Các dịp tiếp theo, chúa Thượng đã cho diễu binh trên bộ với khoảng 6000 binh lính và dân chúng tham gia đi rợp cả “thành phố lớn” Kim Long. Cùng lúc dưới nước chúa cho tập trận với 20 chiến thuyền lướt như bay trên mặt sông Hương.



Một ngôi nhà cổ ở Kim Long, Huế

Sau này vị trí của thủ phủ Kim Long mà Alexandre de Rhodes ghi lại được nhiều nhà nghiên cứu định vị, chẳng hạn: “có lẽ thủ phủ của chúa Nguyễn lúc ấy tọa lạc tại vùng đất từ chợ Kim Long lên đến gần làng Xuân Hòa (…) đã được sông ngòi bao bọc cả 4 bề: trước mặt là sông Hương, bên trái là sông Kim Long, bên phải và phía sau là sông Bạch Yến” (Phan Thuận An).
Một tác giả khác, nhà nghiên cứu Phan Thanh Hải, trong tài liệu về “Thủ phủ Kim Long và diện mạo của Huế trước 1687” in trong tuyển tập Cố đô Huế xưa và nay (NXB Thuận Hóa 2005) nhắc đến 4 lần chúa Nguyễn dời dựng, thay đổi vị trí thủ phủ trước khi chuyển đến Kim Long,đó là Ái Tử (1558 – 1570), Trà Bát (1570 – 1600), Dinh Cát (1600 – 1626), Phước Yên (1626 – 1636) và nhận định:

“Địa danh Kim Long mà chúng tôi nói ở đây là làng Kim Long (chứ không phải phường Kim Long) có diện tích tổng cộng chừng 130ha, nằm ở tả ngạn sông Hương, một vùng đất trù phú màu mỡ, vị trí thuận lợi, cảnh sắc trữ tình. Căn cứ vào các nguồn tư liệu, nhất là gia phả của các dòng họ lâu đời ở Kim Long, thì làng đã được thành lập cách đây trên dưới 400 năm và là kết quả của việc mở rộng và tách ra từ làng Hà Khê (nơi có chùa Thiên Mụ và long mạch nhà Nguyễn) (…) Trong địa phận của làng Kim Long, ngoài sông Hương ở phía Nam còn có sông Kim Long (tức sông lấp) ngăn cách làng Phú Xuân và Vạn Xuân, và sông Bạch Yến chảy ngang qua giữa làng. Cả hai con sông này đều là các chi lưu của sông Hương, chúng vừa tạo nên vẻ đẹp trữ tình của vùng đất này, vừa tạo nên địa thế rất “đắc lợi” của Kim Long là “tứ thủy triều quy”…

Nghĩa là bốn dòng nước tụ về dưới chân những trái núi quanh cuộc đất Kim Long phù hợp với điều cụ Tả Ao giảng giải về thế sơn thủy: sơn là chồng, thủy là vợ, khi chồng xướng xuất việc gì thì vợ sẽ phụ theo (sơn vi phu, thủy vi phụ, phu xướng phụ tùy), cùng nghĩa ấy: núi là “trống”,nước là “mái” – núi chạy đến đâu thì nước theo đến đó (sơn vi hùng, thủy vi thư – hệ sơn tắc thủy tòng). Mà sơn mạch chạy từ dãy Trường Sơn hùng vĩ tách nhánh ra đến đất Kim Long được dòng sông Hương, sông Bạch Yến theo về “hợp hôn” – sinh ra một vùng nước xanh thơ mộng – thủ phủ của Nam Hà, cũng là thủ phủ của tình yêu một thuở.

Nguồn: Motthegioi - Bài: Giao Hưởng – Ảnh: Gia Tiến, Tư liệu

Posted By Unknown03:08

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Học phong thủy với lăng tẩm Huế

Xem phong thủy - Hệ thống lăng tẩm ở Huế gắn liền với sự thăng trầm của chiếc ngai vàng triều Nguyễn (1802 - 1945). Trải qua 13 đời vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp mà hiện còn 7 khu lăng tẩm theo thứ tự: Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng), Minh Mạng (Hiếu Lăng), Thiệu Trị (Xương Lăng), Tự Đức (Khiêm Lăng), Dục Đức (An Lăng), Đồng Khánh (Tư Lăng) và Khải Định (Ứng Lăng).

"Gió về mang cả mùi lăng tẩm"

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi Huế là xứ sở của "Lăng miếu trùng vây". Có thể nói, ngoài bề dày lịch sử của đất thần kinh, "Văn hóa lăng tẩm" là một bộ phận quan trọng và độc đáo cấu thành di sản văn hóa Huế.

Nếu đứng từ vị trí trung tâm của Cố đô, 7 khu lăng này đều nằm về hướng tây của kinh thành Huế, đó là biểu tượng "Thái dương tây hạ" (Mặt Trời lặn phía Tây) - chỉ việc băng hà của đấng Chí tôn.

Theo quan niệm xưa "Thứ nhất dương cơ, thứ hai âm phần", việc xây cất quan trọng sau cung điện là lăng mộ. Từ thời Lý về trước, lăng mộ các vua rất đơn giản, nay chỉ còn dấu vết ít ỏi. Từ đời Trần, Lê về sau, mỗi vua có một lăng riêng, nhưng tẩm thờ thì chung. Đến thời Nguyễn, các vua mới có lăng tẩm mộ to thờ riêng từng người.

Thủy tạ trong Khiêm lăng

Thuật phong thủy là yếu tố phải tuân thủ triệt để trong kiến trúc lăng tẩm Huế. Với quan niệm "Tức vị trị lăng", ngay khi tại vị, vua đã cho tiến hành khảo sát địa thế, lập đồ án xây dựng lăng tẩm cho mình. Các quan ở Khâm Thiên Giám, bộ Lễ, bộ Công đi tìm cuộc đất, ngày khởi công, trình đồ án kiến trúc cho vua ngự duyệt.

Các thầy địa lý nổi tiếng nhất phải mất hàng tháng hoặc hàng năm trời dò tìm long mạch để có địa cuộc đại cát hội đủ các yếu tố minh đường huyền thủy, tiền án hậu chẩm, sơn triều thuỷ tụ, tả thanh long hữu bạch hổ... Huyền cung (nơi đặt quan tài) phải đúng long mạch. Ngoài sông, núi, khe, hồ của tự nhiên là lầu, đài, đình, tạ hoặc đắp thêm núi đất làm án, chẩm; hoặc đào thêm hào, khe làm huyền thủy... hình thành nên những tòa lăng tẩm với kiến trúc độc đáo, cảnh quan hài hoà, hùng vĩ mà thơ mộng. Hầu hết các lăng đều nằm trên những đồi cỏ mượt với ngút thông xanh, cổ thụ sum xuê toả bóng xuống mặt hồ lặng biếc.

Mộ vua Tự Đức trong Khiêm lăng

Nhìn bao quát không gian lớn mới thấy hết vẻ hoành tráng của lăng và mối liên hệ với những thực thể địa lý xa đến hàng chục cây số. Lăng Gia Long có diện tích hơn 20ha, nằm trên núi Thiên Thụ, có núi án là Đại Thiên Thụ, xung quanh có 36 ngọn núi chầu vào. Lăng này do thầy phong thủy Lê Duy Thanh, là con của nhà bác học Lê Quý Đôn, tìm ra địa cuộc. Vua Gia Long đích thân cưỡi voi đi khảo sát trước khi chuẩn y.

Lăng Minh Mạng rộng 15ha, nằm trên núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn), có núi Kim Phụng chầu, toàn lăng như một người nằm gối lên đồi cao, chân tay duỗi ra phía ngã ba sông. Quan Lê Văn Đức tìm ra đất này được vua thăng hai cấp.

Lăng Thiệu Trị nằm trên núi Thuận Đạo, rộng 6ha, theo phong thủy là thế "sơn chỉ thủy giao"(núi dừng, nước giao). Phía trước có đồi Vọng Cảnh chầu bên phải, núi Ngọc Trản chầu bên trái thành thế "tả thanh long, hữu bạch hổ". Trước lăng khoảng 9km có núi Chằm làm tiền án, phía sau có núi Kim Ngọc làm hậu chẩm.

Sống gửi thác về

Khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính là lăng và tẩm. Lăng là nơi an táng thi hài vua, tẩm là hành cung nơi vua làm việc, sinh hoạt, giải trí kiến trúc mô phỏng như hoàng cung. Vua thỉnh thoảng ngự giá đến đây để tiêu khiển, ngắm cảnh, làm thơ, nhìn ngắm sinh phần của mình mà ý thức rằng cõi trần tạm bợ, đời người chóng qua như giấc mộng: "Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê/Sống gửi rồi ra lại thác về/Khôn dại cùng chung ba tấc đất/Giàu sang chưa chín một nồi kê..."(Ngẫm sự đời - Vua Tự Đức).

Với quan niệm "Sống gửi thác về", lăng tẩm là hoàng cung vĩnh hằng của các vị vua. Vì thế, trong hầu hết các lăng tẩm đều trang trí vô số hoa văn các chữ "thọ", "hỷ", hình ảnh sông núi thân quen, những bức họa sinh động để không có cảm giác chết chóc, nặng nề.

Lăng được kiến trúc từ thấp lên cao. Ngoài cùng là thành bao bọc, có hồ thả sen, bờ hồ trồng sứ, cây cảnh. Cổng chính là đến một sân gạch rộng, hai bên sân có đúc tượng người, voi, ngựa bằng đá. Trên cuối sân là Bái đình để các quan làm lễ khi tế tự. Tiếp đó là Bi đình (nhà bia) là toà nhà nhỏ có một tấm bia lớn trên bệ đá cao gọi là bia Thánh đức thần công. Trong bia khắc bài ký ghi nhớ công đức của vua.

Tòa Bi Đình

Sau lưng Bi đình là hai trụ hoa biểu (trụ dẫn linh hồn) cao vút. Qua Bi đình là tẩm điện, thờ thần vị của hoàng đế và hoàng hậu, bên ngoài bày những đồ ngự dụng lúc sinh thời. Phía trong Tẩm điện và hai bên có hai dãy nhà lớn gọi là Tả hữu tùng viện để các bà phi và kẻ hầu ở. Theo nhà nghiên cứu Phan Văn Dật thì đến năm 1901, tức 14 năm sau khi vua Dực Tông băng hà, còn có 47 bà phi sống trong Khiêm Lăng.

Lăng tẩm ngày nay vắng bóng cung nga, khói hương tàn lạnh, tường xanh rêu phủ, nhưng dường như trong không gian se sắt ấy phảng phất bóng u linh rì rào trên ngọn thông, khối đá khiến lòng người chùng xuống. Cảnh sắc ấy thật u uẩn mà cũng thật thi vị, như thi sĩ Bích Lan từng viết: Kìa núi Ngự sông Hương cùng lăng tẩm/Vẫn âm thầm chờ đón các thi nhân...

------------

Nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An đã đúc kết phong cách nghệ thuật của bảy khu lăng tẩm như sau: Lăng Gia Long hoành tráng; Lăng Minh Mạng thâm nghiêm; Lăng Thiệu Trị thanh thoát; Lăng Tự Đức thơ mộng; Lăng Dục Đức đơn giản; Lăng Đồng Khánh xinh xắn; Lăng Khải Định tinh xảo.

Theo Hàn Phong - Kienthucnet

Posted By Unknown19:36

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Hoàng cung nhà Nguyễn qua những bức ảnh chưa từng công bố

[Nhà Nguyễn] Nhiều bức ảnh quý giá chưa từng được công bố về những lễ nghi, sinh hoạt của vua quan nhà Nguyễn những năm đầu thế kỷ XX đang được trưng bày tại triển lãm “Nghi lễ Hoàng cung và lễ hội ở Huế đầu thế kỷ XX”.

Đây là những bức ảnh được các tác giả Việt thời đó như Tang Vinh, Đang Châu… ghi lại qua ống kính, tái hiện nhiều nét sinh hoạt vô cùng độc đáo của vua, quan triều Nguyễn qua các nghi lễ, lễ hội và nếp sinh hoạt hàng ngày trong hoàng cung, trên phố phường.

Sau một thời gian, số ảnh này đã được lưu vào kho của Hội Đô thành Hiếu Cổ (AAVH) - tiền thân của tạp chí chuyên đề nổi tiếng chuyên nghiên cứu về Huế: “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des Amis du Vieux Huê) - với số lượng khoảng 9.000 bức chụp trên toàn Đông Dương, giai đoạn 1885-1954. Trong kho dữ liệu của AAVH còn có hơn 600 sách cổ, 30.000 trang thủ bút đầy quý giá của các tác giả nổi tiếng, vua, quan, các chính khách…

Đến nay Hội AAVH mới chính thức công bố qua triển lãm “Nghi lễ Hoàng cung và lễ hội ở Huế đầu Thế kỷ XX” tại số 1 Lê Hồng Phong (TP Huế). Triển lãm kéo dài đến hết ngày 13/5/2010.

Xin giới thiệu đến quý độc giả những tấm ảnh quý giá được chụp lại tại Triển lãm để độc giả thấy được một thế giới “nội bất xuất, ngoại bất nhập” của chế độ phong kiến cuối cùng tại Việt Nam.

Rước kiệu vua.
Các quan quỳ làm trong ngày lễ mừng thọ vua Khải Định.
Nhiều khung cảnh lạ lẫm như Kỳ Đài trong lễ mừng thọ “tứ thập niên” vua Khải Định.
Một cửa thành xưa.
Ngọ Môn
Voi diễu hành trong Đại Nội ngày Lễ quốc khánh.
Quan và lính
Bộ nhạc khí cổ
Thái tử Khải Định trước giờ làm việc.
Vua Khải Định đang “ngự thiện” (dùng cơm).
Tế sống một con vật trong lễ hội
Theo Dantri - Đại Dương 

Posted By Unknown03:11

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Cận cảnh cổ vật ẩm thực cung đình Huế

[Nhà Nguyễn] Gần 90 cổ vật ẩm thực cung đình với những nét hoa văn tinh xảo được dùng trong cung vua, phủ chúa đã được trưng bày tại nhà Tả Vu, Đại nội Huế, thu hút đông đảo du khách tham quan.











 Trong ảnh là khay đựng trà được trạm khắc tinh xảo. 

Đồ uống trà và khay trà thời Nguyễn. 

Hộp đựng bánh bằng gỗ thế kỷ 19. Các cổ vật này được chế tác tại xưởng sản xuất vật dụng cung đình do những bàn tay nghệ nhân tài hoa, hoặc được triều đình chọn mua, đặt hàng từ các xưởng sản xuất nổi tiếng trên thế giới. 

Khuôn bánh bằng đồng thế kỷ 19-20. 

Tẩu, hộp đựng thuốc hút dùng trong cung đình thế kỷ 19. 


Tô, chén thời vua Thiệu Trị. 

Những cổ vật thời Pháp thuộc như bình đựng nước sốt… 

...chén đựng nước mắm. 

Cơi trầu bằng bạc thế kỷ 19. 

Ống nhổ bằng bạc thời vua Khải Định. 

Bình vôi để ăn trầu được làm bằng đồng. 

Bộ uống rượu bằng bạc thời vua Minh Mạng. 


Bộ uống rượu thời Đồng Khánh. 

Ché rượu thời Nguyễn. 

che ruou
Cận cảnh ché rượu thời Nguyễn được tráng men với hình cặp rồng
đang đứng chầu. 

Cậu bé người Pháp chụp ảnh cổ vật ẩm thực cung đình triều Nguyễn. 

Triển lãm thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. 

Theo Văn Nguyễn - vnexpress

Posted By Unknown06:26

Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung


[Nhà Nguyễn] Sau hơn 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những bảo vật tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến như kim ấn, ngọc tỷ truyền quốc, bảo kiếm... lần đầu được giới thiệu tới công chúng.











Hoàng cung vốn bí ẩn với với người dân và bảo vật trong hoàng cung lại càng bí ẩn. Hàng trăm năm qua, không nhiều người biết đến và được chiêm ngưỡng những bảo vật này. Chính vì vậy, những bảo vật từ hoàng cung các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phủ một bức màn bí ẩn, thậm chí nhiều người cho rằng chúng đã không còn tồn tại hoặc đang nằm ở các bảo tàng, bộ sưu tập trên thế giới, hoặc ngộ nhận một số đồ dùng thông thường trong cung đình là bảo vật hoàng cung. 

Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, từ năm 1959 đến nay, hàng trăm bảo vật của triều đại Lê, Nguyễn như ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng, ngọc... vẫn còn được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là những bảo vật vô giá của nhân dân Việt Nam, không những chứa đựng giá trị lịch sử phong phú mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân cung đình qua từng thời đại. 

Tại lần trưng bày đầu tiên, dù số lượng bảo vật không nhiều, nhưng để đảm bảo an ninh, Bảo tàng Lịch sử đã nhập tủ trưng bày bằng kính 2 lớp dày 12 ly, đóng mở bằng mật khẩu, bục bệ bằng thép 2 lớp. Phòng trưng bày cũng được lắp camera quan sát 24/24h. 

Các vị quan khách tham quan tủ trưng bày mũ vàng của vua triều Lê, Nguyễn 

Do lần đầu được chiêm ngưỡng những bảo vật này nên hàng trăm người dân đã chen cứng trong phòng trưng bày và đua nhau ghi lại những hình ảnh đáng nhớ. 

Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19) nặng hơn 700 gam. 

Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19), nặng 660 gam, được gắn nhiều họa tiết bằng vàng. 


Cận cảnh đỉnh mũ. 

Phía sau mũ cũng được trang trí tinh xảo. 


Ấn, kiếm vàng triều Nguyễn 

Từ trái qua phải: Ấn vàng "Sắc mệnh chi bảo" bằng vàng ròng nặng 8,5 kg, đúc năm Minh Mạng 8 (1827); ấn ngọc "Đai Nam Thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ" của triều Nguyễn; ấn "Quốc gia tín bảo" đúc bằng vàng, nặng gần 5 kg vào niên hiệu Gia Long. 


Ấn "Sắc mệnh chi bảo" gồm 2 cấp, có hình vuông, trên có hình rồng đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán: “Thập tuế hoàng kim nhị bách nhị thập tam lạng lục tiền - Minh Mạng bát niên thập nguyệt cát nhật tạo”. (Nghĩa là: Vàng 10 tuổi nặng 223 lạng 6 tiền - đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mạng thứ 8, 1827). 

Kiếm vàng triều Nguyễn thế kỷ 19 (bên trên) và kiếm vàng "An dân bảo kiếm" năm Khải Định (1916-1925) ở bên dưới. 




Các họa tiết chạm khắc tinh xảo trên kiếm. 


Chén ngọc, chậu vàng, sách vàng 



Bộ chén ngọc khảm vàng triều Nguyễn. 

Chậu vàng của triều Nguyễn, năm Duy Tân 5 (1911), trọng lượng 1,4 kg. 



Đài vàng cẩn ngọc triều Nguyễn thế kỷ 19. 


Cuốn sách vàng chế tác năm Gia Long thứ 5 (1806) có trọng lượng 2,1 kg. 

Theo Tiến Dũng - Vnexpress

Posted By Unknown06:15