Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Tần Thủy Hoàng: Thắng và Bại do Phong Thủy?

[Xem phong thủy] - Là Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, nhiều người nói rằng, ngoài tài năng và sự tàn bạo sở dĩ Tần Thủy Hoàng có thể thống nhất được Trung Quốc là nhờ bố cục phong thủy đắc địa của kinh đô Hàm Dương. Thế nhưng, thành bởi phong thủy, bại cũng bởi phong thủy. Chẳng bao lâu sau khi thực hiện cuộc trấn áp khí thiên tử ở Nam Kinh, Tần Thủy Hoàng đột ngột lâm bệnh nặng rồi chết. Ba năm sau đó, đế quốc Đại Tần mà ông ta khổ công xây dựng đã bị thiêu rụi…

Thống nhất thiên hạ nhờ phong thủy.

Trong con mắt của các nhà phong thủy, Tần Thủy Hoàng sở dĩ thành đại nghiệp, tiêu diệt lục quốc, thống nhất Trung Quốc, trở thành Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là nhờ địa thế lý tưởng của sông núi mà nước Tần chiếm giữ.

Kinh đô Hàm Dương của nước Tần nằm ở phía Nam của núi Cửu Trọng, phía Bắc của dòng Vị Thủy, cả núi lẫn sông đều vượng dương khí, vì vậy nơi đây mới có tên là Hàm Dương. Nếu như nói rằng, nước Tần có được vùng Quan Trung như hổ mọc thêm cánh thì có thể nói Hàm Dương chính là cái vuốt sắc nhọn và lợi hại nhất của con hổ ấy. Thậm chí, có người nói rằng, không có sự phù trợ của kinh đô Hàm Dương, sự nghiệp thống nhất thiên hạ của Tần Thủy Hoàng chưa chắc đã hoàn thành dễ dàng như vậy.

Nằm dưới chân ngọn núi Cửu Trọng tráng lệ và hùng vĩ, bình nguyên Tần Xuyên dài 800 dặm mênh mang, lúc ẩn, lúc hiện. Thành cổ Hàm Dương nằm ngay trong lòng của bình nguyên Tần Xuyên rộng lớn ấy. Vùng đất này có sản vật phong phú, đất đai màu mỡ, là nơi phát tích ra 12 vương triều Chu, Tần, Hán, Tùy, Đường,… Có thể nói, Hàm Dương hoàn toàn không hổ danh là nơi đất tổ của “long mạch”.

Các nhà phong thủy cho rằng, một trong những nguyên tắc cơ bản trong phong thủy là “y sơn, bàng thủy” (dựa vào núi và gần sông, biển). Núi giống như xương sống của đất và là kho thiên nhiên của con người. Còn sông, hồ, biển cả là suối nguồn sự sống của con người. Không có nước, con người không thể nào tồn tại được.

Trên bình nguyên Tần Xuyên rộng lớn, có một dòng sông Vị Hà chảy xuôi xuống phía Nam, tạo nên sự phong phú cho long mạch vùng đất Hàm Dương. Sông Vị Hà là nhánh lớn nhất của dòng Hoàng Hà, con sông lớn nhất Trung Quốc. Chính vì vậy, có thể nói sự giàu có của Hàm Dương nhờ một phần rất lớn vào dòng sông này.

Truyền thuyết kể rằng, vào ngày lập xuân, Tần Vương Doanh Chính muốn làm lễ tế trời bên dòng sông Vị Hà. Khi đoàn người náo nhiệt kéo tới chỗ được lựa chọn làm lễ tế thì phát hiện trong dòng nước chảy của sông Vị Hà phát ra những âm thanh lạ kỳ, trong khi mặt nước vẫn tĩnh lặng, không hề xảy ra điều gì bất thường.

Sau khi đại lễ bắt đầu thì bỗng nhiên mây đen từ đâu kéo về che kín bầu trời. Khi mọi người còn đang hoảng hốt không hiểu lý do thì dòng Vị Hà sóng nổi cuồn cuộn, những ngọn sóng cao ngất tới tấp đánh vào bờ. Đoàn người tế lễ triều Tần vội vàng xông tới bảo vệ cho Tần Vương. Đúng lúc đó, đột nhiên từ dưới dòng nước bay vụt lên một con rồng màu xanh khiến bọt nước bay đầy trời. Tần Vương Doanh Chính đứng sững người, bình tĩnh quan sát tất cả sự việc đang xảy ra trước mắt mình.

Con rồng xanh sau khi xuất hiện, bay vòng quanh trên bầu trời ba vòng rồi hướng về phía Tần Vương Doanh Chính gật đầu ba cái. Sau đó, còn rồng lại một lần nữa bay vút lên trời cao rồi lao xuống dòng nước sông biến mất. Một lúc sau, dòng sông Vị Hà trở lại vẻ tĩnh lặng ban đầu. Từ đó về sau, sông Vị Hà được Tần Vương Doanh Chính gọi là Thánh Thủy (Sông Thánh).

Nhờ có được sự giúp đỡ của thần sông Vị Hà nên sau khi thành đại nghiệp, thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng tự coi mình thuộc về “thủy đức”. Căn cứ theo quan niệm Âm dương Ngũ hành thì nhà Chu thuộc “hỏa đức”, nhà Tần thay thế nhà Chu, thống nhất Trung Quốc đương nhiên thuộc “thủy đức”. Thủy đức vượng nhất vào tháng 10, vì vậy, khi lập pháp, nhà Tần lấy tháng 10 làm tháng đầu của năm.

Trong Ngũ hành, thủy đức ứng với màu đen, vì vậy, nhà Tần rất chuộng màu đen, từ quần áo tới cờ quạt, tất thảy đều có màu đen. Con số biểu tượng của thủy là số 6, vì vậy, tất cả đều lấy con số 6 làm chuẩn. Chẳng hạn như ấn tín, mũ quan đều dài và cao 6 tấc, xe rộng 6 thước (khoảng 1,8 mét), xe ngựa dùng 6 ngựa và cứ 6 thước thì tính là một bộ… Trong những ghi chép của triều đại nhà Tần, ở đâu cũng có thể thấy được dấu vết của “thủy đức”.

“Y sơn, bàng thủy” không chỉ là tiêu chuẩn lựa chọn của phong thủy, mà về mặt quân sự cũng phát huy những ý nghĩa quan trọng. Từ khi trở thành một chư hầu hùng cứ một phương, nhà Tần đã rất nhiều lần dời đô và gần như tất cả các lần dời đô ấy đều có liên quan tới phong thủy. Chẳng hạn, ban đầu nhà Tần lấy vùng Tần Ninh (nay là huyện Hoa, Thiểm Tây) làm trung tâm chính trị là do Tần Ninh có núi Phượng Hoàng che chở, Bắc có sông Vị Thủy, Tây Nam có các kênh đào bao quanh.

Tiếp đó, nước Tần lại chuyển kinh đô về Ung Thành. Nguyên nhân cũng là vì Ung Thành phía Đông giáp sông Hoành Thủy, phía Tây dựa vào ngọn Linh Sơn, phía Nam giáp Hãn Hà, phía Bắc thì có ngọn Quân Pha. Về mặt quân sự, phía Nam có thể khống chế đường nối giữa Hán Trung và Tứ Xuyên, Tây có thể quản chặt đường giao thông phía Tây. Sau đó, nhà Tần lại dời đô một lần nữa.

Lần này là tới Lịch Dương. Phía Bắc của Lịch Dương là giáp với ngoại tộc, phía Đông thông với ba nước Tam tấn là Hàn – Ngụy – Triệu. Có thể thấy rằng, mỗi lần dời đô, nước Tần đều chú ý chọn được vị trí có ưu thế nhất về mặt quân sự, từ đó mở rộng bản đồ lãnh thổ của mình.

Tới thời Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc này quyết định định đô ở Hàm Dương vẫn là vì nguyên nhân “dựa núi, gần sông biển”, tiến thoái đều dễ dàng, nhờ vậy cuối cùng đã thành được đại nghiệp thống nhất Trung Quốc. Theo đó, có thể thấy rằng vị trí địa lý và hoàn cảnh có vai trò thế nào đối với sự phát triển của một vương quốc.

Có thể nói rằng, nhờ vào vị trí phong thủy cực kỳ đắc địa của Hàm Dương mà Tần Vương Doanh Chính mới có thể đánh bại 6 nước chư hầu, biến nước Tần từ một chư hầu trở thành một vương triều và bản thân mình thì trở thành vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử.

Trấn áp khí thiên tử ở Nam Kinh

Thành Nam KinhSau khi giành được thiên hạ, thống nhất đất nước, do không muốn có kẻ nhòm ngó thiên hạ do mình khổ công giành được, Tần Thủy Hoàng đã thực hiện chuyến Đông du để trấn áp “khí thiên tử” ở vùng Đông Nam. Đó là chuyện xảy ra vào năm Tần Thủy Hoàng thứ 37, tức năm 210, cũng là năm Tần Thủy Hoàng mắc bệnh và qua đời.

Theo ghi chép của sử sách thì vào năm này, Tần Thủy Hoàng đã thực hiện một chuyến Đông du về phía Đông Nam, xuất phát từ Tây An vào tháng 10, tới tháng 11 thì tới Vân Mộng rồi lên thuyền xuôi dòng sông đi xuống phía Nam. Khi Tần Thủy Hoàng đi tới vùng phụ cận Nam Kinh thì lên bờ ở bến Giang Thừa, vào trong thị trấn rồi tới Tiểu Đan Dương. Tiếp đó, theo đường thủy Thái Hồ đi tiếp xuống phía Nam, tới vùng Chiết Giang thì dừng lại.

Trên đường quay về, Tần Thủy Hoàng cũng qua sông ở đoạn Giang Thừa. Do chuyến Đông du của Tần Thủy Hoàng, Nam Kinh đã xuất hiện tuyến đường cao tốc đầu tiên, gọi là “Tần Hoàng trì đạo”. Vào thời bấy giờ, loại đường này gọi là quốc đạo, chỉ dùng cho hoàng gia. Đường này làm rộng và thoáng, cưỡi ngựa có thể chạy rất thoải mái và nhanh, do vậy mới có tên là “trì đạo” (trì nghĩa là cưỡi, phi ngựa).

Vì sao Tần Thủy Hoàng lại chọn tuyến đường này để thực hiện chuyến Đông du của mình? Theo sách “Dư địa chí” ghi chép, thì mục đích chủ yếu của Tần Thủy Hoàng là nhằm trấn áp “khí thiên tử” ở vùng Đông Nam. Chuyện kể rằng, trước đó, một thuật sỹ nói với Tần Thủy Hoàng rằng “Giang Đông (vùng Nam Kinh) có khí thiên tử”.

Vì vậy, Tần Thủy Hoàng mới quyết định thực hiện chuyến Đông du, lấy chính bản thân mình ra để trấn áp khí thiên tử này. Sách “Cảnh Định kiện khang chí” cũng có chép, khi Tần Thủy Hoàng vượt sông, thuật sỹ nọ lại đoán khí, nói một cách chi tiết về thời gian và địa điểm của luồng khí thiên tử nọ với Tần Thủy Hoàng: “500 năm sau, Kim Lăng sẽ có thiên tử khí”.

Ý nghĩa của câu nói này chính là sau 500 năm nữa, tại Nam Kinh sẽ sản sinh ra một vương triều mới. Theo truyền thuyết thì thuật sỹ nọ chính là Từ Phúc, người một năm trước đó đã theo lệnh của Tần Thủy Hoàng đi ra biển Đông cầu thuốc trường sinh bất lão. Từ Phúc cũng là ngự y của Tần Thủy Hoàng, vốn là người cảng Liên Vân, tỉnh Giang Tô ngày nay.

Tần Thủy Hoàng nghe thấy Từ Phúc nói như vậy thì thấy thất vọng vô cùng. Ông ta tự gọi mình là Thủy Hoàng (Hoàng đế đầu tiên) và mong muốn con cháu mình sẽ tiếp nối mình đến hàng vạn đời. Nay, theo lời của Từ Phúc thì sự thống trị của triều Tần cùng lắm cũng chỉ kéo dài được 500 năm. Như vậy là quá ngắn ngủi.

Vì thế, Tần Thủy Hoàng quyết định dừng chân tại Nam Kinh. Đây là lý do mà sử sách ghi chép về hành trình Đông du của Tần Thủy Hoàng đều có đoạn Tần Thủy Hoàng tới vùng phụ cận Nam Kinh thì dừng thuyền và lên bờ. Mục đích của Tần Thủy Hoàng là thay đổi phong thủy của đất Kim Lăng để trấn áp “khí thiên tử”, không cho phép mảnh đất này có thể sản sinh ra một vương triều mới thay thế triều Tần.

Người Trung Quốc xưa quan niệm, muốn thay đổi địa vị phong thủy của một vùng đất, có ba cách. Một là thay đổi dòng chảy của sông, hai là trấn khí ở những ngọn núi lớn, ba là đổi tên để làm thấp danh vọng của nó. Tần Thủy Hoàng vì muốn trấn áp triệt để khí thiên tử ở Nam Kinh nên thực hiện cùng lúc cả ba biện pháp trên.

Hành động đầu tiên của Tần Thủy Hoàng là thay đổi dòng chảy của dòng sông Tần Hoài. Sông Tần Hoài vốn có tên ban đầu là “Tàng Long Phố”, là một dòng sông đóng vai trò quan trọng trong giao thông đường thủy của Nam Kinh. Đây chính là con sông đã sản sinh ra nền văn minh lục triều và văn hóa đế vương ở mảnh đất Nam Kinh. Đồng thời, đây cũng là con sông “tiết khí”. Vào năm Minh Đế thứ 2 nhà Đông Tấn, khi Thẩm Sung, Tô Tuấn làm loạn, đã có hơn 3.000 người nhảy xuống sông Tần Hoài tự sát.

Đầu nguồn của sông Tần Hoài bắt nguồn từ hai nơi. Phía Đông bắt nguồn từ Mao Sơn còn phía Tây thì bắt nguồn từ Lô Sơn. Khi hai nhánh này chảy tới núi Phương Sơn thuộc địa phận Giang Ninh thì hợp làm một. Theo truyền thuyết thì con sông này vốn không chảy qua Nam Kinh, tuy nhiên Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh cho quân lính đào khoét núi Phương Sơn để con sông này chảy lên hướng Bắc, đi xuyên qua thành Nam Kinh, từ đó tạo nên sự xung đột và đẩy toàn bộ vương khí tồn tại ở Nam Kinh ra ngoài.

Vì vậy, người ta nói rằng, sở dĩ dòng sông Tần Hoài ngày nay chảy lên hướng Bắc và qua Nam Kinh là do Tần Thủy Hoàng thay đổi dòng chảy nhằm trấn áp vương khí của Nam Kinh. Con sông “Tàng Long” này cũng vì thế mà bắt đầu có tên là Tần Hoài.

Một điều khiến nhiều người thắc mắc là vì sao thuật sỹ của Tần Thủy Hoàng lại lựa chọn Phương Sơn mà không phải là một ngọn núi nào khác. Điều này cũng có liên quan tới phong thủy. Phương Sơn còn gọi là núi Thiên Ấn, là một ngọn núi lớn ở ngoại thành phía Nam của Nam Kinh. Ngày nay, ngọn núi này nằm ở bên bờ sông Tần Hoài, thuộc địa phận thị trấn Đông Sơn, khu Giang Ninh, là một trong những mảnh đất đắc địa về mặt phong thủy của Nam Kinh.

Vì vậy, xung quanh bốn phía của ngọn núi này đều được người ta lựa chọn làm nơi chôn cất của dòng họ mình. Ngọn núi này có dạng hình vuông, đứng thẳng, đỉnh khá bằng phẳng, vì vậy mới có tên là Phương Sơn (núi vuông). Ngoài ra, vì bốn phía đều vuông vắn, giống như một chiếc ngọc tỉ bằng đá tự nhiên nên người ta mới gọi nó là Thiên Ấn Sơn. Ngọc tỉ là ấn tín của Hoàng đế. Cách gọi này hình thành kể từ thời nhà Tần trở đi, và chỉ có ấn tín của Hoàng đế mới được gọi là ngọc tỉ, giống như cách Hoàng đế tự xưng mình là “trẫm”, chỉ duy nhất Hoàng đế được sử dụng.

Ngọn Phương Sơn còn có một “long nhãn” chính là con suối Bát Quái trên ngọn núi này. Con suối này không bị ảnh hưởng bởi sự hạn hán của thời tiết, lúc nào cũng có nước chảy. Điều kỳ lạ chính là, toàn bộ đất ở Phương Sơn đều có màu đen, chỉ có duy nhất đất ở xung quanh chân núi là có màu đỏ rực rỡ. Vì vậy, người ta mới gọi đất ở xung quanh ngọn núi này là “mực đóng dấu”.

Ngày nay, những người tới Phương Sơn đều có thể nghe một truyền thuyết rất phổ biến như sau: Một ngày, Ngọc Hoàng Thượng Đế lấy chiếc ấn vàng của mình ra chơi, không may lỡ tay đánh rơi xuống hạ giới.

Chiến ấn vàng rơi đúng vào vị trí của núi Phương Sơn ngày nay, hóa thành một ngọn núi. Do vậy, ngọn núi này mới có hình dạng vuông vắn đặc biệt như vậy. Sau đó, Ngọc Hoàng phái hai vị Điện tiền thị vệ là Thanh Long và Hoàng Hổ xuống trần gian để bảo vệ ngọn núi này. Đây là lý do vì sao ở phía Đông và phía Tây Phương Sơn có hai ngọn núi tên là Thanh Long và Hoàng Hổ. Chính vì vậy, xét từ góc độ nào, Phương Sơn cũng là một ngọn núi thiêng.

Theo những câu chuyện dân gian còn lưu lại, sau khi “đuổi” vương khí ra khỏi Nam Kinh bằng cách thay đổi dòng Tần Hoài, Tần Thủy Hoàng vẫn sợ như vậy chưa triệt hết nguồn khí thiên tử nên đã dùng roi thần tự tay mình đánh thẳng vào ngọn núi này để trấn áp khí thiêng. Đây là chiêu thứ hai trong việc trấn áp khí thiên tử của Tần Thủy Hoàng. Ban đầu, Tần Thủy Hoàng định dùng “roi thần” chặt đứt phần chân núi.

Tuy nhiên, roi quất xuống không đủ mạnh nên chân núi không đứt mà chỉ làm đứt phần sườn núi. Nửa phần trên bay về hướng Đông Nam hơn 30 dặm, rơi xuống hồ, trở thành màu đỏ như máu nên gọi là Xích Sơn.

Còn nhiều phần nhỏ hơn, bay ra xa khoảng 10 dặm, hình thành Thổ Sơn, Trúc Sơn, Đại Sơn,… Đòn trấn áp của Tần Thủy Hoàng cũng khiến hai ngọn núi Thanh Long và Hoàng Hổ hợp làm một, tiến sát lại núi Phương Sơn. Tần Thủy Hoàng thấy vậy, dùng roi thần đánh tiếp khiến hình thành Bán Biên Sơn.

“Long nhãn” cũng bị Tần Thủy Hoàng làm cho “bị thương”, không ngừng chảy “nước mắt”. Đây chính là suối nước nóng Thang Sơn mà sau này Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh rất thích tới để tắm khi chính quyền Quốc Dân Đảng còn đóng ở Nam Kinh.

Điều đương nhiên, đây chỉ là câu chuyện được lưu truyền trong dân gian. Còn địa hình của Phương Sơn và những ngọn núi xung quanh là do kết quả vận động địa chất hàng trăm, hàng ngàn năm. Làm sao một người trần mắt thịt như Tần Thủy Hoàng lại có thể dùng roi mà sắp xếp được. Tuy nhiên, truyền thuyết này cho người ta thấy rằng, vào thời bấy giờ, chắc chắn Tần Thủy Hoàng đã tìm mọi cách để trấn áp “khí thiên tử” ở ngọn Phương Sơn này.

Chiêu thứ ba của Tần Thủy Hoàng để trấn áp khí thiên tử nơi đây chính là thay đổi tên gọi để hạ thấp uy vọng của mảnh đất này. Trong quan niệm phong thủy truyền thống của Trung Quốc, tên gọi có một vai trò cực kỳ quan trọng. Vì vậy, sau khi đã “chặt đứt” khí thiên tử của Nam Kinh, để trừ hậu hoạ một cách vĩnh viễn và cũng là để người ta quên hẳn mảnh đất này, Tần Vương đã quyết định đổi tên Kim Lăng thành Mạt Lăng.

Mạt Lăng có ý nghĩa gì? Đây có thể nói là cái tên không hay ho nhất trong lịch sử của Kim Lăng và Nam Kinh ngày nay. Người Trung Quốc có thành ngữ nói rằng “Mạt mã lệ binh”, nghĩa là trước khi chiến tranh, cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí. Mạt Lăng, trong mắt của Tần Thủy Hoàng, chỉ là nơi mà ông ta cho ngựa ăn. Chiêu này của Tần Thủy Hoàng cực kỳ thâm hiểm. Sau khi con người đã tàn phá, làm hỏng toàn bộ thiên tử khí của mảnh đất này thì biến nó thành nơi để gia súc sinh sống.

Cho tới tận ngày nay, dải đất Giang Tô vẫn còn giữ tập quán nuôi ngựa. Sau khi gian thần thời Nam Tống là Tần Cối chết, nơi đây cũng bị dân chúng biến thành nơi nuôi ngựa để xỉ nhục họ Tần. Sau khi đổi tên, Tần Thủy Hoàng nhập Mạt Lăng vào Chương quận. Đến thời Tây Hán, Mạt Lăng mới được tách ra thành một quận riêng. Tới năm 128 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế trao Mạt Lăng cho con trai là Giang Đô Vương gọi là Mạt Lăng Hầu.

Tuy nhiên, có lẽ việc trấn khí thiên tử của Tần Thủy Hoàng đã không đạt được mục đích như mong muốn, thậm chí còn quay lại phản tác dụng với chính bản thân ông ta. Sau khi dùng đủ chiêu trò trấn áp khí thiên tử của Nam Kinh, cũng trong chuyến Đông du lần đó, Tần Thủy Hoàng đột nhiên lâm bệnh nặng rồi qua đời. Tệ hơn nữa, sau đó chỉ vỏn vẹn 3 năm, triều Tần do ông ta lao tâm khổ tứ gây dựng đã bị đánh đổ.

Điều quan trọng là, mặc dù Tần Thủy Hoàng tìm mọi cách để trấn áp, song khí thiên tử của Nam Kinh dường như không hề bị tiêu diệt. Tới thời kỳ nhà Hán, đã có đạo sỹ nói: “Vùng Giang Đông có khí thiên tử”. Quả nhiên, chưa tới 500 năm sau đó, từ Nam Kinh đã xuất hiện vị Hoàng đế đầu tiên. Đó là chuyện xảy ra vào năm 229 khi Tôn Quyền xưng đế tại Vũ Xương, không lâu sau đó thì dời đô về Nam Kinh.

Sau đó, khi con cháu Tư Mã Ý đánh bại Thục, Ngô, thống nhất Trung Quốc, thành lập nhà Tây Tấn được 50 năm thì bị diệt vong. Hoàng thất triều Tây Tấn là Tư Mã Duệ tới Nam Kinh thì phát hiện ở ngọn Tưởng Sơn ngoại thành phía Đông có mây tím xuất hiện. Một đạo sỹ nói, đây chính là “khí thiên tử của Giang Đông”.

Duệ mừng lắm, bèn dừng lại ở Nam Kinh rồi lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra triều Đông Tấn, kéo dài hơn trăm năm tại đây. Cũng bắt đầu từ đây, Nam Kinh trở thành mảnh đất đế kinh được nhiều triều đại lựa chọn làm trung tâm chính trị của quốc gia mình. Cho tới thời hiện đại, chính quyền Dân quốc cũng lựa chọn Nam Kinh làm thủ đô. Tuy nhiên, người ta nói rằng, dù không cắt đứt được khí thiên tử, nhưng những chiêu trấn áp của Tần Thủy Hoàng cũng khiến mảnh đất Nam Kinh mắc phải lời nguyền, tất cả những triều đại đóng đô trên mảnh đất này đều không tồn tại được lâu, thậm chí bị tiêu diệt rất nhanh và cực kỳ thảm khốc.

Theo phunutoday

Posted By Unknown19:01

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Phong thủy: Làng bát quái trận đồ họ Gia Cát

Nhung ngoi nha co[Xem phong thủy] - Giữa những ngôi nhà cổ trong thôn Bát Quái có rất nhiều ngõ ngách nhỏ, nhà nọ thông sang nhà kia, khúc khuỷu quanh co, chỗ tưởng ngõ thông hóa ra lại là ngõ cụt, biến hóa tài tình dường như không theo quy luật nào…

Trong tiềm thức của người dân Á Đông chịu ảnh hưởng khá lớn từ văn hóa Trung Hoa, Gia Cát Lượng luôn là một hình tượng tuyệt vời của trí tuệ vô song qua ngòi bút tài tình của tác giả La Quán Trung trong bộ tiểu thuyết dã sử “Tam Quốc diễn nghĩa”.

Tài, đức, cuộc đời và sự nghiệp của một nhân vật tầm cỡ nhường ấy, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, “lại sai khiến được cả quỷ thần” theo như nhận xét của Chu Du luôn luôn là đề tài không mới nhưng đầy sức hấp dẫn thêu dệt nên nhiều giai thoại, nhiều câu chuyện trong dân gian.

Bình sinh, sở học của ông được ghi chép lại cả và trao lại cho Khương Duy, hiệu Bá Ước, trong đó có Bát trận đồ - đỉnh cao nghệ thuật quân sự do chính Khổng Minh sáng tạo ra.


Trải qua quá trình biến thiên của lịch sử, bản Bát Trận đồ lưu lạc nơi đâu vẫn còn là một câu hỏi lớn, sự kỳ diệu của “Bát trận đồ” thực hư ra sao vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, vùng đất Lan Khê thuộc địa bàn tỉnh Triết Giang ngày nay có một thôn tên gọi Bát Quái với kiến trúc đặc biệt có một không hai được cho là mô phỏng theo Bát Trận đồ của Khổng Minh.

Thôn Bát Quái tọa lạc tại ngoại ô phía Tây thành phố Lan Khê vốn xưa có tên gọi Cao Long. Đại bộ phận người dân thôn Bát Quái với hơn 3000 nhân khẩu mang họ Gia Cát được coi là hậu duệ của Thừa tướng, Trung Vũ hầu lừng danh nhà Hậu Hán.

Hậu duệ của ông hiện sinh sống trải khắp đất nước Trung Quốc, nhưng tập trung đông nhất vẫn là thôn Bát Quái. Tương truyền, thôn Bát Quái được thành lập do Gia Cát Đại Sư, hậu duệ đời thứ 20 của Khổng Minh sống vào thời Nam Tống đưa theo gia đình vợ con tới đây lập nên năm 1340.


Để tỏ lòng tưởng nhớ Gia Cát Lượng, cụ tổ 20 đời trước là bậc danh tướng tài ba của mọi thời đại, con cháu ông đã chọn địa điểm xây dựng thôn Bát Quái dựa theo Bát Trận đồ của Khổng Minh. Hồ Chuông là hình ảnh thái cực với hai nửa âm dương rõ rệt, nằm ở trung tâm và là điểm trũng nhất của thôn Bát Quái.

Từ con đường vành khuyên ven hồ có 8 ngả đường chính dẫn ra các hướng thông với vành đai ngoài, tạo thành tám cung Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, Càn. Đường vành đai ngoài bao bọc thôn Bát Quái cao hơn mặt bằng chung của thôn, mỗi một cung lại có một gò đất khá cao, đứng từ trên gò có thể quan sát khá rõ toàn cảnh của thôn và cũng là mô hình biến hóa khôn lường của Bát Quái trận.

Được xây dựng từ thời Nam Tống, nhưng kiến trúc các công trình, nhà cửa của thôn Bát Quái còn bảo tồn gần như nguyên vẹn những đặc điểm nổi bật của kiến trúc thời nhà Minh. Giữa những ngôi nhà cổ có rất nhiều ngõ ngách nhỏ, nhà nọ thông sang nhà kia, khúc khuỷu quanh co, chỗ tưởng ngõ thông hóa ra lại là ngõ cụt, biến hóa tài tình dường như không theo quy luật nào.


Ven hồ Chuông, người dân thôn Bát Quái còn xây dựng 2 từ đường thờ phụng Gia Cát Lượng, một là Đại công đường, hai là Thừa tướng từ đường với pho tượng Khổng Minh bằng đồng đang cầm quạt lông ngỗng, tư thế thanh thoát, thần thái trang nghiêm. Hai công trình này là nơi thờ tự Khổng Minh duy nhất từ thời Minh vẫn còn giữ được nguyên hiện trạng.

Tư tưởng âm dương, bát quái là một đặc trưng nổi bật làm nên văn hóa Trung Hoa ăn sâu vào trong tiềm thức mọi người, để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực. Cùng với Bát Quái thôn, cũng trong địa bàn Triết Giang còn có ruộng Bát Quái tọa lạc tại phía nam núi Ngọc Hoàng ngoại ô Hàng Châu.


Theo ghi chép trong cuốn “Tây Hồ du lãm chí”, tháng Giêng năm 1143, ông vua Nam Tống là Tống Huy Tông dẫn theo bách quan đến Nam Giao (Hàng Châu ngày nay) làm lễ tịch điền cầu cho mùa màng bội thu. Thửa ruộng nơi Tống Huy Tông cày được thiết kế thành đồ hình Bát quái với ý nghĩa cầu mong cho vua chúa nhà Tống phúc thọ dồi dào, người nông dân mùa màng tươi tốt. Từ đó trở về sau, Bát Quái điền trở thành một danh lam mà nhiều tao nhân mặc khách Trung Quốc thường hay lui tới thưởng ngoạn.

Người dân thôn Ngọc Hoàng vẫn cấy hái, canh tác ngay trên thửa ruộng đặc biệt này. Ngoại trừ vòng tròn âm dương ở giữa được trồng trà Long Tỉnh, một loại trà đặc sản của Hàng Châu và đã nổi tiếng khắp thế giới, trên 8 cung vòng ngoài, theo mùa vụ trong năm người ta cấy lúa, trồng đậu, vừng, ớt, bốn mùa xanh tốt.


Ngoài ruộng Bát quái do bàn tay con người tạo ra ở Hàng Châu, thôn Vạn Phong, huyện Hưng Nghĩa tỉnh Quý Châu cũng có một thửa ruộng Bát quái nhưng thửa ruộng này được hình thành hoàn toàn tự nhiên theo địa thế trũng dần vào tâm tạo thành đồ hình Bát quái khá độc đáo.

Đặc biệt dưới thửa ruộng ấy có một mạch nước ngầm chảy qua, vượt hơn 20 km đồng ruộng mới xuất hiện thành dòng đổ ra sông Chu Giang. Hàng trăm năm nay người dân địa phương vẫn canh tác bình thường trên thửa ruộng đặc biệt này và nhiều người quan niệm, ai được đặt chân lên thửa ruộng này sẽ thăng quan phát tài.

Nhà phong thủy sưu tầm
Theo 24h

Posted By Unknown21:02

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Xem phong thủy lăng mộ Võ Tắc Thiên

Võ Tắc Thiên[Xem phong thủy] - Trong lịch sử gần 3.000 năm của lịch sử phong kiến Trung Quốc, Võ Tắc Thiên là một người phụ nữ cực kỳ đặc biệt. Trở thành Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất được sử sách công nhận, những gì Võ Tắc Thiên đã làm thực sự là một đòn đau giáng vào cái thể chế phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ cố hữu ở xứ sở hàng tỷ dân. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của Võ Tắc Thiên đối với Trung Quốc không chỉ là khi bà còn sống. 

Nhiều người tin rằng, ngay cả khi đã chết, Võ Tắc Thiên vẫn có những ảnh hưởng rất lớn tới vận mệnh quốc gia. Chẳng nói đâu xa, nhiều người tin rằng ngay Càn Lăng - nơi Võ Tắc Thiên lựa chọn làm nơi chôn cất của mình - cũng đã hàm chứa không ít những bí mật…

Tháng 2 năm 705, Võ hậu ốm nặng không còn lo việc triều chính được nữa. Nhân cơ hội đó, tể tướng Trương Giản Tri dẫn đầu các quan văn võ trong triều, thực hiện cuộc chính biến, xông vào hậu cung, bắt giết hai anh em Trương Xương Tông - những kẻ đang được Võ hậu vô cùng sủng ái - rồi buộc Võ hậu phải hạ chiếu nhường ngôi lại cho Thái tử Lý Hiển. Lý Hiển lên ngôi một lần nữa, sử gọi là Đường Trung Tông, Võ hậu lui xuống làm Thái thượng hoàng rồi qua đời vào tháng 11 năm đó.

Khi lâm chung, Võ hậu yêu cầu Lý Hiển dùng thụy hiệu cho bà là Hoàng hậu chứ không phải Hoàng đế, do vậy bà không có miếu hiệu như những vị Hoàng đế khác. Võ hậu cũng yêu cầu chôn mình ở Càn Lăng cùng với chồng mình là Đường Cao Tông Lý Trị, đồng thời dựng trên mộ bà một tấm bia trống (gọi là Vô tự bia) với ý rằng, công tội của bà sẽ do đời sau phán xét. 

Cho tới nay, người ta vẫn chưa thể lý giải vì sao một người phụ nữ đầy tham vọng như Võ Tắc Thiên - người đã dám phá bỏ cả một vương triều lừng lẫy, tự lập nên vương triều của dòng họ mình - đến phút cuối cùng lại quay về thân phận một người vợ, yêu cầu “hợp táng” cùng chồng là Cao Tông. Tuy nhiên, các nhà phong thủy thì tin rằng, một trong những nguyên nhân khiến Võ Tắc Thiên lựa chọn Càn Lăng làm nơi chôn cất của mình chính là vì địa thế phong thủy cực kỳ đắc địa của khu lăng mộ này.

Càn Lăng

Càn Lăng được xây dựng trên đỉnh núi Lương Sơn, nằm cách huyện thành Thiên Càn 6km về phía Bắc. Nơi đây cách Tây An - kinh đô thời Đường - khoảng 160 dặm, tạo thành thế hô ứng với các dãy núi Cửu Tông, Kim Túc, Ta Nga, Nghiêu Sơn… Khác với vị trí Chiêu Lăng do chính Lý Thế Dân - ông vua nổi tiếng triều Đường - tự lựa chọn, người ta nói rằng, vị trí của Càn Lăng được lựa chọn một cách cực kỳ chuyên nghiệp. Người lựa chọn vị trí xây dựng Càn Lăng chính là Thái sử lệnh Lý Thuần Phong - vị quan chịu trách nhiệm về âm dương và thiên văn của triều đại nhà Đường.

Thời nhà Đường, nhân tài rất nhiều, trong xã hội hay chốn cung đình đều không thiếu vắng những người tài năng. Lý Thuần Phong là một trong những nhân tài loại đó. Sử chép, họ Lý là một trong những nhà thiên văn và số học cổ đại có tiếng của Trung Quốc. Ông ta cũng là người để lại không ít những tác phẩm mà ngày nay giới nghiên cứu phong thủy và thiên văn cổ đại Trung Quốc coi là sách giáo khoa gối đầu giường. Cùng thời với Lý Thuần Phong lúc bấy giờ còn có một người khác tài danh không kém, gọi là Viên Thiên Canh. Giống như họ Lý, họ Viên là một tay cao thủ về việc âm dương bói toán. 

Viên chính là người đã giúp Lý Thế Dân lựa chọn vị trí xây dựng Chiêu Lăng. Người đương thời tin rằng Viên là một “thần nhân”, bởi lẽ gần như không có việc gì Viên dự đoán mà xảy ra sai lệch. Nói theo lối hiện đại, vào thời bấy giờ, Lý Thuần Phong và Viên Thiên Canh được coi là những đại trí thức, những nhân vật quyền uy bậc nhất về học thuật trong triều Đường. 

Lý Trị vốn là con trai thứ 9 của Lý Thế Dân, do Hoàng hậu Trưởng Tôn sinh ra. Năm 649, khi Lý Thừa Càn bị phế, Lý Trị lên ngôi, trở thành Đường Cao Tông Hoàng đế. Sau khi lên ngôi không lâu, theo thông lệ cũ của nhà Đường, Lý Trị phái Lý Thuần Phong và Viên Thiên Canh thay mình đi tìm một nơi đất tốt để xây dựng mộ phần.

Theo những gì sử sách còn ghi lại thì họ Viên và họ Lý đã đi tới không ít nơi song vẫn chưa tìm được vị trí ưng ý. Mãi tới một hôm, sau khi Viên Thiên Canh tới Quan Trung, quan sát thiên tượng vào giờ Tý, mới phát hiện trên dãy núi xuất hiện một luồng khí màu tím xông thẳng lên sao Bắc Đẩu. Khí màu tím xuất hiện trong quan niệm phong thủy chính là điềm lành. Lần theo luồng khí màu tím này, Viên Thiên Canh đã tìm được vị trí xây dựng Càn Lăng ngày nay. Lúc bấy giờ, để đánh dấu, Viên Thiên Canh đã chôn xuống dưới đất một đồng tiền bằng đồng.


Một điều trùng hợp là sau đó, Lý Thuần Phong cũng tìm tới nơi đây. Tuy nhiên, khác với Viên Thiên Canh, họ Lý lựa chọn Lương Sơn do những phân tích kỹ càng về địa thế phong thủy của ngọn núi này. Sau khi nghiên cứu địa thế ngọn Lương Sơn, Lý Thuần Phong phát hiện ra rằng, hai đỉnh phía Đông và Tây của Lương Sơn nằm ở thế đối diện nhau, vì vậy nếu nhìn từ xa thì ngọn Lương Sơn trông giống như cặp vú của người phụ nữ. 

Nếu nhìn rộng hơn nữa thì toàn bộ khu vực Lương Sơn giống như một người phụ nữ quý tộc đang say giấc nồng. Sau khi dùng các mảnh đá sắp xếp thành sơ đồ bát quái để tính toán, Lý Thuần Phong cũng xác định vị trí đặt lăng mộ ngay đúng chỗ mà Viên Thiên Canh đã lựa chọn.

Sau khi nhận được tin báo của họ Lý và họ Viên, Lý Trị lập tức cử người cậu của mình là Trưởng Tôn Vô Kỵ tới xem xét một lần nữa rồi mới đưa ra quyết định. Sử chép, khi tới nơi, Trưởng Tôn Vô Kỵ không khỏi kinh ngạc khi đầu của cây cọc sắt mà Lý Thuần Phong đóng xuống đất để đánh dấu chọc đúng vào ô vuông bên trong có đồng tiền mà Viên Thiên Canh đã chôn. 

Do Lương Sơn - nơi xây dựng Càn Lăng - có địa thế rất giống với bộ ngực của người phụ nữ nên người dân địa phương nơi đây còn gọi núi Lương Sơn là Nãi Đầu Sơn. Ngọn núi này nhìn gần thì rất kỳ vĩ nhưng nhìn xa lại rất thấp. Viên Thiên Canh cho rằng, nơi đây âm khí nặng hơn, vì vậy nếu như không tính toán cẩn thận thì long mạch nhà họ Lý sẽ bị một người phụ nữ làm cho tổn hại. 

Lý do mà Viên Thiên Canh đưa ra dường như rất hợp lý. Ngọn Lương Sơn nằm ở phía Tây của núi Cửu Tông, trong khi đó, long mạch của nhà Đường thì nằm ở phía Đông Cửu Tông. Vì vậy, Viên cho rằng, Chiêu Lăng - nơi chôn cất Lý Thế Dân - chính là phần đầu của long mạch triều Đường. Theo quan niệm truyền thống về phong thủy thì vị trí xây dựng lăng mộ cho Lý Trị phải nằm dưới phần “đầu rồng” này. Như vậy, vị trí mộ lý tưởng nhất phải thuộc các dãy núi Kim Túc, Ta Nga, Nghiêu Sơn… Tuy nhiên, nay lại có một người phụ nữ ngồi ở trên đầu của những người đàn ông dòng họ Lý.

Xét về địa thế thì cả hai mặt Lương Sơn đều có nước vây quanh, là nơi tàng phong tụ khí, đích thực là một vị trí đắc địa về phong thủy. Các nhà phong thủy đương thời đều thừa nhận điều này. Người ta nói rằng, dãy Lương Sơn vốn là phần “dư âm” của long mạch từ thời Chu, vì vậy những người dân bình thường chọn đất này làm nơi mai táng thì có thể đảm bảo ba đời giàu sang, phú quý. Tuy nhiên, đối với triều đại nhà Đường, ba đời e là quá ngắn ngủi. Hơn nữa, đại thế phong thủy của Lương Sơn lại không hô ứng với phong thủy của Chiêu Lăng vốn đã được Lý Thế Dân lựa chọn. Sự không hô ứng này khiến vương khí bị đứt đoạn, e là chỉ sau ba đời sẽ bị cản trở.

Võ Tự bi

Trưởng Tôn Vô Kỵ và Lý Thuần Phong đều nói đây là mảnh đất tốt, ngàn năm có một, trong khi đó Viên Thiên Canh thì lại kiên quyết khẳng định rằng nơi này không thích hợp. Đứng trước hai ý kiến hoàn toàn trái ngược, Lý Trị lúc bấy giờ cũng không biết quyết định ra sao. Khi đó, Võ Tắc Thiên mới là Chiêu nghi, nghe được chuyện này mừng lắm. Viên Thiên Canh từng dự đoán rằng, triều đại nhà Đường sẽ bị một người phụ nữ họ Võ xâm phạm.

Lý Thế Dân cũng vì lý do này mà giết không ít người họ Võ. Hơn nữa, khi trước, họ Viên khi xem tướng mạo của Võ Tắc Thiên đã nói rằng: “Nếu như không phải là nữ giới thì nhất định sẽ là chủ thiên hạ”. Như vậy, địa thế phong thủy của Lương Sơn chẳng phải là ứng với những gì Viên Thiên Canh đã dự đoán hay sao? Nghĩ vậy, Võ Tắc Thiên đã tìm mọi cách khuyên Lý Trị không nên do dự, nghe theo lời của cậu là Trưởng Tôn Vô Kỵ.

Lý Trị vốn là người nhu nhược nên chẳng mấy chốc đã bị Võ Tắc Thiên thuyết phục, việc lựa chọn vị trí xây dựng Càn Lăng được quyết định. Người ta nói rằng, Viên Thiên Canh sau khi biết chuyện đã thở dài mà than rằng: “Người thay nhà Đường không ai khác chính là Võ Chiêu nghi”. Lời nói của Viên sau này quả nhiên ứng nghiệm.

Mặc dù không nghe theo lời của Viên Thiên Canh, tuy nhiên những ý kiến của một bậc “đại sư” như Viên cũng khiến Trưởng Tôn Vô Kỵ và Lý Trị cảm thấy lo lắng. Vì vậy, sau khi lăng mộ được xây xong, Lý Trị muốn tìm một cái tên thật cẩn thận để lấy lại cân bằng với những khuyết điểm trong địa thế phong thủy của lăng mộ. Lúc bấy giờ, có vị đại thần kiến nghị đặt tên lăng là “Thừa Lăng”, lấy ý kế thừa long mạch của Chiêu Lăng. Tuy nhiên, Trưởng Tôn Vô Kỵ lại căn cứ theo vị trí của Lương Sơn là nằm về phía Tây Bắc, theo Dịch lý thì nó thuộc cung Càn, vì vậy kiến nghị đặt tên là Càn Lăng. 

Viên Thiên Canh chẳng nói là Lương Sơn âm khí quá nặng hay sao? Như vậy, đặt tên là Càn Lăng càng hợp lý vì Càn chính là thuộc dương, ở trên, Khôn ở dưới, thuộc âm, cả hai kết hợp lại là “Âm dương tương hợp định càn khôn”. Lý Trị nghe Trưởng Tôn Vô Kỵ giải thích vô cùng xuôi tai, vì vậy quyết định đặt tên lăng là Càn Lăng. 

Tuy nhiên, việc đặt một cái tên đầy “dương khí” cho lăng mộ cũng không giúp Lý Trị và triều đại nhà Đường thoát khỏi “lời nguyền”. Đúng như dự đoán, sau khi Lý Trị qua đời, Võ Tắc Thiên bắt đầu từng bước thâu tóm quyền lực trong triều đình. 

Tới tháng 9 năm 690, Võ Tắc Thiên chính thức lên ngôi Hoàng đế, trở thành Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc. Các nhà phong thủy cho rằng, chính địa thế phong thủy của Càn Lăng đã giúp Võ Tắc Thiên làm nên sự nghiệp lẫy lừng như vậy và chính vì thế nên đến cuối đời, Võ Tắc Thiên đã quyết định được chôn cất tại Càn Lăng chứ không phải vì muốn hợp táng với Đường Cao Tông Lý Trị.

Theo phunutoday

Posted By Unknown19:47

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Phong thủy: Tổ sư phong thủy Quách Phác

Tuong dai su phong thuy Quach Phac[Xem phong thủy] - Với tất cả những người học và nghiên cứu phong thủy đều biết Đại sư Phong thủy Quách Phác là một trong những vị Tông sư về thuật phong thủy, ông đã để lại cho hậu thế những tuyệt tác phong thủy như “Táng thư” (coi mộ phần) và “Thuật tướng địa” (xem thế đất), nên được tôn xưng là tỵ tổ (tức ông tổ ngành địa lý).

Quách Phác không chỉ “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, Quách Phác còn là người duy nhất trong lịch sử phong thủy Trung Hoa, dự đoán chính xác ngày chết của mình…

Đại sư phong thủy Quách Phác:

Quách Phác (276 - 324 sau Công Nguyên) là một Văn Học Gia và Huấn Hỗ Gia (Chú giải các Kinh Điển) đời Đông Tấn. Ông tên chữ là Cảnh Thuần, người ở Văn Hỷ Hà Đông (nay thuộc Sơn Tây). Ông được xếp hàng đầu chuyên về Cổ Học Văn Kỳ Tự, Từ Phú, ông cũng có nghiều nghiên cứu về Âm Dương Thuật Toán Ngũ Hành cũng Bốc Phệ Dịch Kinh. Ông từng chú giải rất nhiều dinh điển quan trọng như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh...

Quách Phác được hậu thế coi trọng là bậc Tổ Sư Khai Sơn của Học Thuật Phong Thủy, luận về Phong Thủy Học không thể không nói đến Quách Phác. Trong sách "Tấn Thư" nói về ông như sau "Phác chuyên học Kinh Thuật, sâu rộng có tài cao", "Giỏi về cổ văn kỳ tự, có hiểu biết sâu sắc về thuật toán âm dương ngũ hành", "Hiểu sâu sắc về bói Dịch và Ngũ Hành, chuyển họa tránh tai, thông biến vô cùng"...Tương truyền ông là người viết Táng Thư là người đầu tiên nói đến hai chữ Phong Thủy “葬者,乘生气也。经曰:气乘风而散,界水则止古人聚之使不散,行之使不散,行之使有止,故谓之风水” (Táng giả, thừa sinh Khí dã. Kinh viết: "Khí thừa Phong nhi Tán, giới Thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy). Cũng theo truyền thuyết Thành Ôn Châu (Nay vẫn còn) là do Quách Phác lợi dụng địa thế tự nhiên sử dụng các gọn núi xếp thành hình sao Bắc Đẩu mà kiến thiết.

Nói đến Quách Phác tất không thể không nhắc đến bộ sách "Táng Thư" nổi tiếng của Ông. Trong bộ sách này lần đầu tiên các thuật ngữ về Phong Thủy Học đã được sử dụng như Sinh Khí, Tàng Phong, Đắc Thủy, Hình Thế, Tứ Linh, Phương Vị ...Sau này cho dù Phong Thủy Học đã phát triển thành nhiều môn nhiều phái, song các Tri Thức Căn Bản này đều được các Phái khai thác sử dụng rất nhiều.

Cuốn “Táng thư” hay còn gọi là “Táng kinh”, tách phong thủy khỏi tướng địa thuật truyền thống, giải thích cặn kẽ hàm nghĩa của hai từ phong thủy cũng như bàn rất kỹ về lý luận và thực tiễn của thuật phong thủyCuốn sách “Táng kinh” của Quách Phác chính là nền tảng cho sự phát triển của thuật phong thủy sau này. Vì vậy, người Trung Quốc lâu nay đều gọi Quách Phác là ông tổ của Phong Thủy Học.

Phong thuy hinh the

Phong Thủy Học của Quách Cảnh Thuần Tiên Sinh không chỉ là một bộ môn học thuật đơn thuần, cao hơn nữa nó chân chính là một Triết Lý Nhân Sinh về Hiếu Tâm (Lòng Hiếu Nghĩa) của con người. "Cho nên Danh Mộ trong thiên hạ đều ở tại chỗ đó. Đều là Chân Long phát tích, xa xa trăm dặm, hoặc hơn mười dặm mà kết Một Huyệt, tại chỗ Kết Huyệt là Núi bọc vòng vòng bảo vệ nâng đỡ, nước chảy quang co nuôi dưỡng, tầng tầng lớp lớp, sa thủy tụ tập, nương tựa trước sau. Hình thành một Huyệt tất là do tinh anh sông núi, ngưng kết dung hội mới thành được. Muốn lấy được cái Tinh Anh đất trời đó, lấy di cốt cha mẹ mà táng tại nới đó, gửi gắm cả tương lai con cháu chỗ ấy, cho nên cũng là chỗ ký thác Tâm vậy. Ký thác Tâm ấy nên có cảm thông, tạo phúc cho hậu thế. Là Tâm của người có Trí Tuệ thông chỗ Khí, Khí lại thông với Trời, lấy cái Linh của Tâm người thông với cái Linh của Đất Trời Càn Khôn, giáng Thần dục Tú, là hợp lại nguồn sinh tức....Bởi vậy Tung Sơn xuất hai Đại Thừa Tướng, núi Ni Khâu sinh ra Đức Khổng Tử, nào phải ngẫu nhiên đâu ?! chẳng phải chôn xương cốt đâu, là chôn Tâm Người đó vậy."...

Những truyền thuyết về Đại sư phong thủy Quách Phác:

Chuyện kể rằng, khi mọi người định ở tại bờ bắc của sông mà kiến thiết thành mới, cho mời Quách Phác điểm đất, ông đi thuyền qua bờ bắc xem đất, nhận thấy đất nơi ấy quá nhẹ, không để xây thành được, mới đi qua bên này sông, trèo lên dãy núi phía Tây Bắc, xem thấy các ngọn núi hình thành nên một chuỗi tựa hình sao Bắc Đẩu, Hoa Cái Sơn khóa ngay cửa khẩu, liền nói với mọi người: "Nếu kiến thiết Thành mới ở phía ngoài núi, có thể tụ được Phú Quý, song e có nhiều họa chiến tranh, nếu kiến thiết Thành ở trong núi, có thể giữ được sự an định lâu dài" do đó mọi người đồng lòng kiến thiết Thành Ôn Châu dựa vào trong núi. Chỗ núi mà Quách Phác leo lên quan sát từ đó có tên là Quách Công Sơn, để lưu dấu công tích một vị Đại Sư về Học Thuật Phong Thủy.

Ở thời phong kiến Trung Quốc, bọn đào trộm mộ bị người ta cực kỳ khinh khét, đặc biệt là các bậc vua chúa. Thế nhưng, các thầy phong thủy thì khác hẳn. Với các bậc đế vương, thầy phong thủy được coi như những vị thánh sống, có thể biết chuyện quá khứ, dự đoán tương lai.

Thời bấy giờ, người ta quan niệm rằng, giang sơn của đế vương có thể được ngàn đời hay không, không chỉ phụ thuộc vào tài năng và quyền lực của ông ta mà còn phụ thuộc vào việc có chiếm được một long huyệt cực đẹp về phong thủy hay không. Tìm kiếm long huyệt là một việc không dễ dàng chút nào, những người bình thường không thể làm được. Các thầy phong thủy được sinh ra để giải quyết những việc này. Do vậy, trước sau họ luôn có những “chức vụ quan trọng” thực sự của các đế vương.

Sách “Thái Bình Quảng ký” chép về Quách rằng: “Quách là người uyên bác, biết hết thiên văn, địa lý, các sách bói toán, bốc dịch cho tới phong thủy, biết được cả chuyện quỷ thần, không nghề nào là không giỏi”. Trong sách này, Quách Phác được miêu tả thành một kẻ nửa thần nửa người, nửa âm, nửa dương, không chỉ biết được tất cả mọi việc trong thiên hạ mà còn biết cả chuyện cõi âm.

Không chỉ trong sử sách, trong dân gian cũng lưu truyền không ít những câu chuyện liên quan tới khả năng siêu phàm của Quách Phác.

Những ghi chép vốn đã nhuốm màu sắc hoang đường, nay lại một lần nữa được bồi tụ bởi những truyền thuyết trong dân gian khiến Quách Phác càng trở nên “xuất thần nhập hóa”.

Nhiều tài:

hinh dai su phong thuy Quach PhacKhi Quách Phác còn chưa nổi tiếng, mẹ của Quách qua đời, Quách chọn một mảnh đất rất bình thường an táng cho mẹ. Mảnh đất này nằm các rất gần nguồn nước, do vậy mỗi khi tới mùa, trời mưa là ngôi mộ lại bị chìm trong nước.

Khi đó, các thầy phong thủy đều nói rằng, phong thủy của mảnh đất mà Quách chọn quá dở. Tuy nhiên, Quách Phác không hề để ý, tiếp tục kiên trì ý kiến của mình.

Rất kỳ quái là chỉ vài năm sau, do phù sa bồi đắp, nơi đặt mộ của mẹ Quách không những không bị nước nhấn chìm, mà xung quanh ngôi mộ còn hình thành một ruộng dâu tươi tốt. Sự kiện này sau đó đã khiến tên tuổi Quách Phác trở nên nổi tiếng. Nhiều người từ những nơi rất xa cũng lặn lội tới tìm Quách nhờ xem mộ.

Lúc bấy giờ Tấn Nguyên Đế cũng là người thích phong thủy, nghe tiếng Quách Phác có biệt tài tìm đất đặt mộ đặc biệt linh nghiệm, do vậy, Tấn Nguyên Đế liền tự mình đi xem những mộ huyệt mà Quách Phác đã chọn.

Một lần, trên một sườn núi, Tấn Nguyên Đế gặp một người nông dân đang đào mộ ở một mảnh đất có địa thế rất đẹp, đương thời gọi là long giác vì vậy mới tới chỗ của người nông dân hỏi: “Vì sao ông lại tìm được mảnh đất này để đặt mộ?”.

Người nông dân trả lời: “Đây là do Quách Phác tiên sinh chỉ cho tôi. Ông ấy nói, nếu như chôn ở chỗ này thì không tới 3 năm tôi sẽ có thể gặp được thiên tử”.

Tấn Nguyên Đế nghĩ tên nông dân này to gan mới hỏi: “Ngươi định chôn ở đây để trong nhà sinh ra một thiên tử phải không?” Người nông dân cười nói: “Không phải là nhà tôi sinh ra thiên tử mà là có thể thiên tử sẽ tới đây mà thôi”.

Vậy là rõ, chính Tấn Nguyên Đế là thiên tử và ông ta đang đứng ở ngay trước mặt người nông dân chứ ai. Nghĩ vậy, Tấn Nguyên Đế rất lấy làm khâm phục Quách Phác và quyết định gặp mặt cho bằng được thầy phong thủy họ Quách này để nhờ ông ta tìm cho mình một ngôi mộ những mong đế vị có thể truyền tới vạn đời.

Việc Quách Phác có tìm được đất đặt mộ như ý muốn của Tấn Nguyên Đế hay không thì không thấy sử sách nào ghi chép. Tuy nhiên, sử sách cũng có ghi lại một câu chuyện về việc Quách Phác tìm mộ cho một viên quan họ Trương, tên Dụ.

Trong sách “Nam Sử” phần Trương Dụ chuyện có kể rằng, khi cố nội Trương Dụ qua đời, người ta có mời Quách Phác xem phong thủy và chọn nơi đặt mộ.

Quách Phác tìm kiếm một hồi thì tìm được hai vị trí tốt để Trương Dụ lựa chọn và nói: “Nếu như chôn ở huyệt mộ thứ nhất thì ông có thể sống tới trăm tuổi, làm quan tới tam tư (tức các chức Đại Tư Mã, Tư Đồ, Tư Không, các chức quan hàng đầu trong triều đình phong kiến thời Hán) nhưng con cháu lại không hưng vượng.

Nếu như chôn ở vị trí thứ hai thì tuổi thọ của ông sẽ giảm đi một nửa, quan vị cũng thấp hơn song tôn tử lại sẽ rất hưng vượng, giàu sang, phú quý”.

Trương Dụ nghe xong, chẳng cần phải suy nghĩ, lựa chọn huyệt mộ thứ hai vì cho rằng, con cháu được giàu sang phú quý vẫn là điều quan trọng hơn cả. Sự thực sau đó diễn ra đúng như Quách Phác đã nói. Trương Dụ chết khi tuổi mới quá 40, thế nhưng con cháu Trương Dụ thì lại làm quan rất to và vô cùng giàu có.

Một câu chuyện khác lại kể rằng, lúc bấy giờ ở Dương Châu có một viên quan tên là Cố Cầu. Chị của Cầu bị bệnh đã hơn 40 năm mà vẫn nằm trên giường không khỏi. Khi nghe tiếng của Quách, Cố Cầu đã tìm tới nhờ Quách bốc cho mình một quẻ xem vì sao bệnh tình của chị mình lâu thế vẫn chưa khỏi.

Quách đồng ý bốc cho Cầu một quẻ. Sau khi bốc quẻ, Quách nói: “Tổ tiên nhà họ Cố trước đây từng giết một con rắn thần, do vậy phần mộ tổ tiên không được yên nên mới sinh bệnh tật ở con cháu”.

Cố Cầu sau đó về tra cứu lại gia phả thì quả thực có chuyện đó từng xảy ra. Sau đó, Cố Cầu đã vội làm lễ tạ tội với linh xà thì bệnh của người chị lập tức khỏi ngay.

Và cũng lắm tật:

Quách Phác là một thầy phong thủy có tài, tuy nhiên, tật cũng nhiều không kém. Sách “Sưu thần ký” có chép một câu chuyện về Quách như rằng, khi Quách hãy còn chưa nổi tiếng, từng có thời gian phụ việc cho quan thái thú Lô Giang là Hồ Mạnh Khang.

Trong thời gian này, Quách Phác để mắt tới một người hầu gái trong phủ họ Hồ, tuy nhiên, do khi đó chưa địa vị, lại cũng chẳng có tiền nên không biết làm thế nào để lấy được người mình yêu.

Cuối cùng, Quách Phác nghĩ ra một kế. Đêm hôm đó, Quách dùng đậu đỏ rắc xung quanh nhà họ Hồ.

Sáng sớm hôm sau, Hồ Mạnh Khang tỉnh dậy muộn, đột nhiên phát hiện ra xung quanh nhà như có hàng ngàn người mặc áo đỏ vây quanh.

Tới khi chạy tới gần xem thì những người ấy hoàn toàn biến mất. Cứ như vậy lặp đi lặp lại nhiều ngày, Hồ Mạnh Khang cảm thấy có điều gì đó bất thường nên đem chuyện này nói với Quách Phác.

Chỉ đợi tới lúc đó, Quách Phác mới nói: “Trong nhà ông có một nữ nô tì mệnh tương khắc với căn nhà này. Vì vậy, muốn tránh tà mà đến như vậy, chỉ còn cách đem nô tì này ra bán ở cách nhà 20 dặm, giá bán phải rẻ thì mới có thể hóa dữ thành lành được”.

Hồ Mạnh Khang tin Quách Phác nói thật, vội vã đem cô nô tì nọ ra bán. Quách Phác đã bố trí người từ trước, đứng sẵn ở đó để đợi mua cô nô tì với giá rẻ.

Hồ Mạnh Khang không những không biết Quách Phác làm trò với mình, thậm chí còn rất cảm kích Quách Phác, khắp nơi truyền tụng Quách Phác là một thầy phong thủy cao tay.

Tuy nhiên, người ta thường nói, đi đêm thì cũng có ngày gặp ma, Quách Phác cuối cùng đã gặp nạn vì nữ sắc. Quách có một người bạn thân tên là Hoàn Di. Do là chỗ bạn thân, nên Hoàn Di thường tùy tiện vào nhà của Quách mà chẳng đánh tiếng. Lần nào Hoàn Di mở cửa vào nhà của Quách Phác, cũng gặp lúc Quách đang vui đùa với tình nhân.

Để hạn chế những tình huống trớ trêu ấy, Quách Phác nói với Hoàn Di rằng: “Hoàn Di à, mỗi lần ông tới đều có thể đi thẳng vào trong nhà tôi, không cần nể nang gì. Tuy nhiên, tuyệt đối không được vào nhà vệ sinh tìm tôi, nếu không chúng ta sẽ gặp đại họa”. Hoàn Di nghe xong rồi để đó chứ không quan tâm tới Quách Phác nói gì.

Một hôm, sau khi uống say, Hoàn Di tới nhà Quách Phác, vào nhà không thấy Quách Phác đâu, Hoàn Di đi thẳng vào nhà vệ sinh để tìm.

Chỉ thấy trong nhà vệ sinh, Quách Phác đang cởi trần, tóc tai rũ rượi, miệng ngậm dao tế lễ, chẳng biết là đang tu luyện hay làm phép. Quách Phác nhìn thầy Hoàn Di thất kinh nói: “Hai chúng ta chết tới nơi rồi!”.

Quả thực, ít lâu sau, Vương Đội định mưu phản mới lệnh cho Quách Phác tới xem việc mưu phản có thành công không.

Quách Phác bốc quẻ nói quẻ không tốt. Vương Đội tức giận, nghĩ rằng, việc chưa bắt đầu đã bị Quách Phác làm cho đen đủi nên tức giận ra lệnh giết chết Quách Phác.


Trích từ phunutoday và sưu tầm

Posted By Unknown19:30

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Học phong thủy với lăng tẩm Huế

Xem phong thủy - Hệ thống lăng tẩm ở Huế gắn liền với sự thăng trầm của chiếc ngai vàng triều Nguyễn (1802 - 1945). Trải qua 13 đời vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp mà hiện còn 7 khu lăng tẩm theo thứ tự: Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng), Minh Mạng (Hiếu Lăng), Thiệu Trị (Xương Lăng), Tự Đức (Khiêm Lăng), Dục Đức (An Lăng), Đồng Khánh (Tư Lăng) và Khải Định (Ứng Lăng).

"Gió về mang cả mùi lăng tẩm"

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi Huế là xứ sở của "Lăng miếu trùng vây". Có thể nói, ngoài bề dày lịch sử của đất thần kinh, "Văn hóa lăng tẩm" là một bộ phận quan trọng và độc đáo cấu thành di sản văn hóa Huế.

Nếu đứng từ vị trí trung tâm của Cố đô, 7 khu lăng này đều nằm về hướng tây của kinh thành Huế, đó là biểu tượng "Thái dương tây hạ" (Mặt Trời lặn phía Tây) - chỉ việc băng hà của đấng Chí tôn.

Theo quan niệm xưa "Thứ nhất dương cơ, thứ hai âm phần", việc xây cất quan trọng sau cung điện là lăng mộ. Từ thời Lý về trước, lăng mộ các vua rất đơn giản, nay chỉ còn dấu vết ít ỏi. Từ đời Trần, Lê về sau, mỗi vua có một lăng riêng, nhưng tẩm thờ thì chung. Đến thời Nguyễn, các vua mới có lăng tẩm mộ to thờ riêng từng người.

Thủy tạ trong Khiêm lăng

Thuật phong thủy là yếu tố phải tuân thủ triệt để trong kiến trúc lăng tẩm Huế. Với quan niệm "Tức vị trị lăng", ngay khi tại vị, vua đã cho tiến hành khảo sát địa thế, lập đồ án xây dựng lăng tẩm cho mình. Các quan ở Khâm Thiên Giám, bộ Lễ, bộ Công đi tìm cuộc đất, ngày khởi công, trình đồ án kiến trúc cho vua ngự duyệt.

Các thầy địa lý nổi tiếng nhất phải mất hàng tháng hoặc hàng năm trời dò tìm long mạch để có địa cuộc đại cát hội đủ các yếu tố minh đường huyền thủy, tiền án hậu chẩm, sơn triều thuỷ tụ, tả thanh long hữu bạch hổ... Huyền cung (nơi đặt quan tài) phải đúng long mạch. Ngoài sông, núi, khe, hồ của tự nhiên là lầu, đài, đình, tạ hoặc đắp thêm núi đất làm án, chẩm; hoặc đào thêm hào, khe làm huyền thủy... hình thành nên những tòa lăng tẩm với kiến trúc độc đáo, cảnh quan hài hoà, hùng vĩ mà thơ mộng. Hầu hết các lăng đều nằm trên những đồi cỏ mượt với ngút thông xanh, cổ thụ sum xuê toả bóng xuống mặt hồ lặng biếc.

Mộ vua Tự Đức trong Khiêm lăng

Nhìn bao quát không gian lớn mới thấy hết vẻ hoành tráng của lăng và mối liên hệ với những thực thể địa lý xa đến hàng chục cây số. Lăng Gia Long có diện tích hơn 20ha, nằm trên núi Thiên Thụ, có núi án là Đại Thiên Thụ, xung quanh có 36 ngọn núi chầu vào. Lăng này do thầy phong thủy Lê Duy Thanh, là con của nhà bác học Lê Quý Đôn, tìm ra địa cuộc. Vua Gia Long đích thân cưỡi voi đi khảo sát trước khi chuẩn y.

Lăng Minh Mạng rộng 15ha, nằm trên núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn), có núi Kim Phụng chầu, toàn lăng như một người nằm gối lên đồi cao, chân tay duỗi ra phía ngã ba sông. Quan Lê Văn Đức tìm ra đất này được vua thăng hai cấp.

Lăng Thiệu Trị nằm trên núi Thuận Đạo, rộng 6ha, theo phong thủy là thế "sơn chỉ thủy giao"(núi dừng, nước giao). Phía trước có đồi Vọng Cảnh chầu bên phải, núi Ngọc Trản chầu bên trái thành thế "tả thanh long, hữu bạch hổ". Trước lăng khoảng 9km có núi Chằm làm tiền án, phía sau có núi Kim Ngọc làm hậu chẩm.

Sống gửi thác về

Khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính là lăng và tẩm. Lăng là nơi an táng thi hài vua, tẩm là hành cung nơi vua làm việc, sinh hoạt, giải trí kiến trúc mô phỏng như hoàng cung. Vua thỉnh thoảng ngự giá đến đây để tiêu khiển, ngắm cảnh, làm thơ, nhìn ngắm sinh phần của mình mà ý thức rằng cõi trần tạm bợ, đời người chóng qua như giấc mộng: "Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê/Sống gửi rồi ra lại thác về/Khôn dại cùng chung ba tấc đất/Giàu sang chưa chín một nồi kê..."(Ngẫm sự đời - Vua Tự Đức).

Với quan niệm "Sống gửi thác về", lăng tẩm là hoàng cung vĩnh hằng của các vị vua. Vì thế, trong hầu hết các lăng tẩm đều trang trí vô số hoa văn các chữ "thọ", "hỷ", hình ảnh sông núi thân quen, những bức họa sinh động để không có cảm giác chết chóc, nặng nề.

Lăng được kiến trúc từ thấp lên cao. Ngoài cùng là thành bao bọc, có hồ thả sen, bờ hồ trồng sứ, cây cảnh. Cổng chính là đến một sân gạch rộng, hai bên sân có đúc tượng người, voi, ngựa bằng đá. Trên cuối sân là Bái đình để các quan làm lễ khi tế tự. Tiếp đó là Bi đình (nhà bia) là toà nhà nhỏ có một tấm bia lớn trên bệ đá cao gọi là bia Thánh đức thần công. Trong bia khắc bài ký ghi nhớ công đức của vua.

Tòa Bi Đình

Sau lưng Bi đình là hai trụ hoa biểu (trụ dẫn linh hồn) cao vút. Qua Bi đình là tẩm điện, thờ thần vị của hoàng đế và hoàng hậu, bên ngoài bày những đồ ngự dụng lúc sinh thời. Phía trong Tẩm điện và hai bên có hai dãy nhà lớn gọi là Tả hữu tùng viện để các bà phi và kẻ hầu ở. Theo nhà nghiên cứu Phan Văn Dật thì đến năm 1901, tức 14 năm sau khi vua Dực Tông băng hà, còn có 47 bà phi sống trong Khiêm Lăng.

Lăng tẩm ngày nay vắng bóng cung nga, khói hương tàn lạnh, tường xanh rêu phủ, nhưng dường như trong không gian se sắt ấy phảng phất bóng u linh rì rào trên ngọn thông, khối đá khiến lòng người chùng xuống. Cảnh sắc ấy thật u uẩn mà cũng thật thi vị, như thi sĩ Bích Lan từng viết: Kìa núi Ngự sông Hương cùng lăng tẩm/Vẫn âm thầm chờ đón các thi nhân...

------------

Nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An đã đúc kết phong cách nghệ thuật của bảy khu lăng tẩm như sau: Lăng Gia Long hoành tráng; Lăng Minh Mạng thâm nghiêm; Lăng Thiệu Trị thanh thoát; Lăng Tự Đức thơ mộng; Lăng Dục Đức đơn giản; Lăng Đồng Khánh xinh xắn; Lăng Khải Định tinh xảo.

Theo Hàn Phong - Kienthucnet

Posted By Unknown19:36