Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỳ môn Độn Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỳ môn Độn Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Lý giải số 7 và máy bay MH17 theo phong thủy

[Nhà phong thủy luận] Chuyến bay MH17 của Hãng hàng không Malaysia Airlines từ Hà Lan về Malaysia nhìn về phương vị trên bình diện bản đồ thế giới (từ Tây Bắc đi về Đông Nam), đặt biệt tính theo năm tháng ngày giờ di chuyển gặp nạn của chuyến bay MH17 trong năm 2014 (Giáo Ngọ) thì 2 phương vị này hoàn toàn không tốt (Ngũ hoàng Liêm Trinh “5” Tây Bắc, Tam Bích, Lộc Tồn “3” Đông Nam).

Thật bất ngờ, khi đọc những thông tin mọi người bàn tán về số 7 liên quan đến tai nạn máy bay MH17. Bạn có cho rằng số 7 mang lại những điều xấu này? Hôm nay xin được chia sẻ một số thông tin về con số 7 trong các bộ môn lý số (thuật số) phương Đông, để các bạn hiểu rõ hơn và minh oan cho con số 7 kỳ diệu này.

Trước tiên, xin nói rõ là việc máy bay tử nạn MH17, 17 tuổi (số năm hoạt động), loại Boeing 777, khai sinh (ngày khai thác) vào ngày 17/07/1997, tử nạn lúc 17h17’ ngày 17/07/2014, cướp đi 298 nhân mạng, hoàn toàn không có nguyên nhân từ con số 7 như mọi người đang bàn luận do con số 7 “Định mệnh”. Đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nếu căn cứ vào số 7 để quy tội thì chắc ngày hôm đó sẽ có rất nhiều chuyến bay hay phương tiện có liên quan số 7 đều lâm nạn!

Nếu chúng ta lý giải theo Phật pháp về vụ tại nạn này là sự cộng nghiệp (cộng duyên) của 298 nạn nhân trong cùng một không gian và thời gian, chứ hoàn toàn không do số 7 này quyết định số mệnh của họ. Tôi có thể chứng minh, dẫn chứng về không gian và thời gian của tai nạn thương tâm này bằng phong thủy truyền thống (tam nguyên, lưỡng nguyên), kỳ môn độn giáp đó là sự trùng phùng ứng nghiệm, dựa trên các thông tin đã liệt kê ở trên.

Số 7 mang ý nghĩa gì trong lý số?

Quái (Quẻ) Đoài có tượng Số 7: (còn được gọi là sao Thất xích hoặc Phá Quân; Kỳ môn độn giáp: Trực sử: Kinh Môn, Trực phù: Thiên Trụ - Tên Tử Vi) có những tính chất chính sau:
  • Phương vị: Tây
  • Ngũ hành: Kim.
  • Màu sắc: màu trắng, bạc, xám trắng.
  • Thiên thời: Mưa, trăng non, sao, mùa thu.
  • Địa lý: hướng Tây, đầm, hồ, mép nước, ao tù, giếng hoang, đất nức nẻ, núi lở, đất có vị chua.
  • Cơ thể: Lưỡi, miệng, yết hầu, phổi, đờm, nước bọt, xương.
  • Nhân sự: Thiếu nữ, út nữ, thê thiếp, ca sỹ, diễn viên, người phiên dịch, người giúp việc, ẩn sĩ, thầy, người tu luyện, hoạt động giải trí,..
  • Tính cách nhân sự: Trầm, đẹp lòng, vui vẻ, nói nhiều, hay gièm pha.
  • Luận sự việc: 1. Nếu vượng thì hoạnh phát về võ nghiệp hoặc kinh doanh. 2. Nếu suy thì bị trộm cướp, hay tiểu nhân làm hại, dễ mắc tai họa về hỏa tai hay thị phi, hình ngục.
Người Mệnh quái số 7 Kim (Tây tứ mệnh): Thuộc quái Đoài, hành Kim, bề ngoài người quái Đoài có vẻ mềm mỏng giống như vàng và bạc nhưng cách cư xử của họ lại khác. Thực ra bên trong họ khá cứng rắn. Tuy nhiên, họ lại có tính sôi nổi dễ lây lan, họ cũng ưa nhìn. Đáng tiếc là vẻ đẹp bên ngoài của họ khiến họ hơi tự cao tự đại và có phần…hợm hĩnh. Người quái Đoài giỏi hùng biện và diễn giải vấn đề rất hiệu quả, nhưng họ cũng là người rất hay lý sự. Tuy nhiên, lời lẽ của họ giống như con dao hai lưỡi, họ có thể vừa đánh vừa xoa. Khó mà biết được bạn vừa được khen hay bị chê! Người quái Đoài hết sức khéo léo, khó mà hiểu được họ. Trên thực tế, họ rất kín đáo. Cuộc sống của họ thường nhiều thách thức.

Sơ lược qua các ý nghĩa, khái niệm tượng số 7 (Quẻ Đoài), chúng ta thấy rằng nó không phải là một con số xấu, hoặc các bạn không thể tự gán ghép cho nó cái tên theo suy nghĩ riêng được như (Thất: nghĩa bại, hay Thất sát: nghĩa chết chóc). Theo tôi thì không có con số nào là xấu hay tốt mãi mãi được, nó cũng diễn tiến như cuộc sống thực tế của chúng ta vậy, có lúc thịnh, có lúc suy.

Chẳng hạn như theo tam nguyên cửu vận thời kỳ vận 7 (từ năm 1984 đến năm 2003 : 20 năm) số 7 là chủ soái, vì thế ngành giải trí, giới ca sỹ, luật sư, thầy thuật số, phiên dịch,..rất là thịnh vượng, các bạn thấy rằng trong giai đoạn vận 7, những show diễn lớn rất nhiều, rất dễ thành công… như các bạn cũng từng nghe nói “Tây phương cực lạc” nó cũng mang ý nghĩa này. Đình chùa, miếu mạo thông thường đều tọa Động hướng Tây hoặc tọa Tây hướng Đông là vì vậy, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát luôn được đặt ở phương Tây, nhìn về phương Tây, nếu có dịp các bạn thử tham quan các Phật tích sẽ hiểu ý nghĩa này.

Các bạn nếu có hiểu biết/làm về nông nghiệp sẽ hiểu về mùa Lập Thu là mùa nghỉ ngơi (mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây), thu hoạch, vì thế, để quy kết số 7 mang ý nghĩa, hàm nghĩa xấu là hoàn toàn việc không chính đáng.

Nhân duyên của tai họa Trùng phùng “Thời - Không”?


Chuyến bay từ Hà Lan về Malaysia nhìn về phương vị trên bình diện bản đồ thế giới (từ Tây Bắc đi về Đông Nam), đặt biệt tính theo năm tháng ngày giờ di chuyển gặp nạn của chuyến bay MH17 trong năm 2014 (Giáo Ngọ) thì 2 phương vị này hoàn toàn không tốt (Ngũ hoàng Liêm Trinh “5” Tây Bắc, Tam Bích, Lộc Tồn “3” Đông Nam). Nếu các bạn biết về trân Kỳ môn độn giáp thì cũng sẽ cho kết quả tương tự.


Theo cách nhiệm ý (tức lấy bất kỳ thông tin ngẫu nhiên có liên quan, cảm ứng luận đoán), tôi căn cứ theo ngày hoạt động, khai thác đầu tiên (17/07/1997 tra lịch vạn niên: ngày Canh Thân tháng Đinh Mùi năm Đinh Sửu). Đại vận 2 (10 năm): Ất Tị. Canh Ất hóa hợp Kim, ngay tháng Mùi (hỏa - thổ). Tthêm một bước nữa là giờ ngày tháng năm gặp nạn (17h17’ ngày 17/07/2014, tra lịch vạn niên: giờ Quý Dậu ngày Kỷ Sửu tháng Tân Mùi năm Giáp Ngọ), chúng ta thấy rằng, thời khắc đã điểm và hoàn toàn không liên quan đến số 7.

Tôi xin chia buồn đến gia đình các nạn nhân thông qua bài viết này, cầu mong họ được siêu thoát. Và cũng muốn chia sẻ với tất cả các bạn về con số 7 kỳ diệu, hoàn toàn không quyết định hay mang đến vận rủi cho chuyến bay định mệnh MH17.

Posted By Unknown04:32

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Phong thủy: Tổ sư phong thủy Quách Phác

Tuong dai su phong thuy Quach Phac[Xem phong thủy] - Với tất cả những người học và nghiên cứu phong thủy đều biết Đại sư Phong thủy Quách Phác là một trong những vị Tông sư về thuật phong thủy, ông đã để lại cho hậu thế những tuyệt tác phong thủy như “Táng thư” (coi mộ phần) và “Thuật tướng địa” (xem thế đất), nên được tôn xưng là tỵ tổ (tức ông tổ ngành địa lý).

Quách Phác không chỉ “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, Quách Phác còn là người duy nhất trong lịch sử phong thủy Trung Hoa, dự đoán chính xác ngày chết của mình…

Đại sư phong thủy Quách Phác:

Quách Phác (276 - 324 sau Công Nguyên) là một Văn Học Gia và Huấn Hỗ Gia (Chú giải các Kinh Điển) đời Đông Tấn. Ông tên chữ là Cảnh Thuần, người ở Văn Hỷ Hà Đông (nay thuộc Sơn Tây). Ông được xếp hàng đầu chuyên về Cổ Học Văn Kỳ Tự, Từ Phú, ông cũng có nghiều nghiên cứu về Âm Dương Thuật Toán Ngũ Hành cũng Bốc Phệ Dịch Kinh. Ông từng chú giải rất nhiều dinh điển quan trọng như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh...

Quách Phác được hậu thế coi trọng là bậc Tổ Sư Khai Sơn của Học Thuật Phong Thủy, luận về Phong Thủy Học không thể không nói đến Quách Phác. Trong sách "Tấn Thư" nói về ông như sau "Phác chuyên học Kinh Thuật, sâu rộng có tài cao", "Giỏi về cổ văn kỳ tự, có hiểu biết sâu sắc về thuật toán âm dương ngũ hành", "Hiểu sâu sắc về bói Dịch và Ngũ Hành, chuyển họa tránh tai, thông biến vô cùng"...Tương truyền ông là người viết Táng Thư là người đầu tiên nói đến hai chữ Phong Thủy “葬者,乘生气也。经曰:气乘风而散,界水则止古人聚之使不散,行之使不散,行之使有止,故谓之风水” (Táng giả, thừa sinh Khí dã. Kinh viết: "Khí thừa Phong nhi Tán, giới Thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy). Cũng theo truyền thuyết Thành Ôn Châu (Nay vẫn còn) là do Quách Phác lợi dụng địa thế tự nhiên sử dụng các gọn núi xếp thành hình sao Bắc Đẩu mà kiến thiết.

Nói đến Quách Phác tất không thể không nhắc đến bộ sách "Táng Thư" nổi tiếng của Ông. Trong bộ sách này lần đầu tiên các thuật ngữ về Phong Thủy Học đã được sử dụng như Sinh Khí, Tàng Phong, Đắc Thủy, Hình Thế, Tứ Linh, Phương Vị ...Sau này cho dù Phong Thủy Học đã phát triển thành nhiều môn nhiều phái, song các Tri Thức Căn Bản này đều được các Phái khai thác sử dụng rất nhiều.

Cuốn “Táng thư” hay còn gọi là “Táng kinh”, tách phong thủy khỏi tướng địa thuật truyền thống, giải thích cặn kẽ hàm nghĩa của hai từ phong thủy cũng như bàn rất kỹ về lý luận và thực tiễn của thuật phong thủy. Cuốn sách “Táng kinh” của Quách Phác chính là nền tảng cho sự phát triển của thuật phong thủy sau này. Vì vậy, người Trung Quốc lâu nay đều gọi Quách Phác là ông tổ của Phong Thủy Học.

Phong thuy hinh the

Phong Thủy Học của Quách Cảnh Thuần Tiên Sinh không chỉ là một bộ môn học thuật đơn thuần, cao hơn nữa nó chân chính là một Triết Lý Nhân Sinh về Hiếu Tâm (Lòng Hiếu Nghĩa) của con người. "Cho nên Danh Mộ trong thiên hạ đều ở tại chỗ đó. Đều là Chân Long phát tích, xa xa trăm dặm, hoặc hơn mười dặm mà kết Một Huyệt, tại chỗ Kết Huyệt là Núi bọc vòng vòng bảo vệ nâng đỡ, nước chảy quang co nuôi dưỡng, tầng tầng lớp lớp, sa thủy tụ tập, nương tựa trước sau. Hình thành một Huyệt tất là do tinh anh sông núi, ngưng kết dung hội mới thành được. Muốn lấy được cái Tinh Anh đất trời đó, lấy di cốt cha mẹ mà táng tại nới đó, gửi gắm cả tương lai con cháu chỗ ấy, cho nên cũng là chỗ ký thác Tâm vậy. Ký thác Tâm ấy nên có cảm thông, tạo phúc cho hậu thế. Là Tâm của người có Trí Tuệ thông chỗ Khí, Khí lại thông với Trời, lấy cái Linh của Tâm người thông với cái Linh của Đất Trời Càn Khôn, giáng Thần dục Tú, là hợp lại nguồn sinh tức....Bởi vậy Tung Sơn xuất hai Đại Thừa Tướng, núi Ni Khâu sinh ra Đức Khổng Tử, nào phải ngẫu nhiên đâu ?! chẳng phải chôn xương cốt đâu, là chôn Tâm Người đó vậy."...

Những truyền thuyết về Đại sư phong thủy Quách Phác:

Chuyện kể rằng, khi mọi người định ở tại bờ bắc của sông mà kiến thiết thành mới, cho mời Quách Phác điểm đất, ông đi thuyền qua bờ bắc xem đất, nhận thấy đất nơi ấy quá nhẹ, không để xây thành được, mới đi qua bên này sông, trèo lên dãy núi phía Tây Bắc, xem thấy các ngọn núi hình thành nên một chuỗi tựa hình sao Bắc Đẩu, Hoa Cái Sơn khóa ngay cửa khẩu, liền nói với mọi người: "Nếu kiến thiết Thành mới ở phía ngoài núi, có thể tụ được Phú Quý, song e có nhiều họa chiến tranh, nếu kiến thiết Thành ở trong núi, có thể giữ được sự an định lâu dài" do đó mọi người đồng lòng kiến thiết Thành Ôn Châu dựa vào trong núi. Chỗ núi mà Quách Phác leo lên quan sát từ đó có tên là Quách Công Sơn, để lưu dấu công tích một vị Đại Sư về Học Thuật Phong Thủy.

Ở thời phong kiến Trung Quốc, bọn đào trộm mộ bị người ta cực kỳ khinh khét, đặc biệt là các bậc vua chúa. Thế nhưng, các thầy phong thủy thì khác hẳn. Với các bậc đế vương, thầy phong thủy được coi như những vị thánh sống, có thể biết chuyện quá khứ, dự đoán tương lai.

Thời bấy giờ, người ta quan niệm rằng, giang sơn của đế vương có thể được ngàn đời hay không, không chỉ phụ thuộc vào tài năng và quyền lực của ông ta mà còn phụ thuộc vào việc có chiếm được một long huyệt cực đẹp về phong thủy hay không. Tìm kiếm long huyệt là một việc không dễ dàng chút nào, những người bình thường không thể làm được. Các thầy phong thủy được sinh ra để giải quyết những việc này. Do vậy, trước sau họ luôn có những “chức vụ quan trọng” thực sự của các đế vương.

Sách “Thái Bình Quảng ký” chép về Quách rằng: “Quách là người uyên bác, biết hết thiên văn, địa lý, các sách bói toán, bốc dịch cho tới phong thủy, biết được cả chuyện quỷ thần, không nghề nào là không giỏi”. Trong sách này, Quách Phác được miêu tả thành một kẻ nửa thần nửa người, nửa âm, nửa dương, không chỉ biết được tất cả mọi việc trong thiên hạ mà còn biết cả chuyện cõi âm.

Không chỉ trong sử sách, trong dân gian cũng lưu truyền không ít những câu chuyện liên quan tới khả năng siêu phàm của Quách Phác.

Những ghi chép vốn đã nhuốm màu sắc hoang đường, nay lại một lần nữa được bồi tụ bởi những truyền thuyết trong dân gian khiến Quách Phác càng trở nên “xuất thần nhập hóa”.

Nhiều tài:

hinh dai su phong thuy Quach PhacKhi Quách Phác còn chưa nổi tiếng, mẹ của Quách qua đời, Quách chọn một mảnh đất rất bình thường an táng cho mẹ. Mảnh đất này nằm các rất gần nguồn nước, do vậy mỗi khi tới mùa, trời mưa là ngôi mộ lại bị chìm trong nước.

Khi đó, các thầy phong thủy đều nói rằng, phong thủy của mảnh đất mà Quách chọn quá dở. Tuy nhiên, Quách Phác không hề để ý, tiếp tục kiên trì ý kiến của mình.

Rất kỳ quái là chỉ vài năm sau, do phù sa bồi đắp, nơi đặt mộ của mẹ Quách không những không bị nước nhấn chìm, mà xung quanh ngôi mộ còn hình thành một ruộng dâu tươi tốt. Sự kiện này sau đó đã khiến tên tuổi Quách Phác trở nên nổi tiếng. Nhiều người từ những nơi rất xa cũng lặn lội tới tìm Quách nhờ xem mộ.

Lúc bấy giờ Tấn Nguyên Đế cũng là người thích phong thủy, nghe tiếng Quách Phác có biệt tài tìm đất đặt mộ đặc biệt linh nghiệm, do vậy, Tấn Nguyên Đế liền tự mình đi xem những mộ huyệt mà Quách Phác đã chọn.

Một lần, trên một sườn núi, Tấn Nguyên Đế gặp một người nông dân đang đào mộ ở một mảnh đất có địa thế rất đẹp, đương thời gọi là long giác vì vậy mới tới chỗ của người nông dân hỏi: “Vì sao ông lại tìm được mảnh đất này để đặt mộ?”.

Người nông dân trả lời: “Đây là do Quách Phác tiên sinh chỉ cho tôi. Ông ấy nói, nếu như chôn ở chỗ này thì không tới 3 năm tôi sẽ có thể gặp được thiên tử”.

Tấn Nguyên Đế nghĩ tên nông dân này to gan mới hỏi: “Ngươi định chôn ở đây để trong nhà sinh ra một thiên tử phải không?” Người nông dân cười nói: “Không phải là nhà tôi sinh ra thiên tử mà là có thể thiên tử sẽ tới đây mà thôi”.

Vậy là rõ, chính Tấn Nguyên Đế là thiên tử và ông ta đang đứng ở ngay trước mặt người nông dân chứ ai. Nghĩ vậy, Tấn Nguyên Đế rất lấy làm khâm phục Quách Phác và quyết định gặp mặt cho bằng được thầy phong thủy họ Quách này để nhờ ông ta tìm cho mình một ngôi mộ những mong đế vị có thể truyền tới vạn đời.

Việc Quách Phác có tìm được đất đặt mộ như ý muốn của Tấn Nguyên Đế hay không thì không thấy sử sách nào ghi chép. Tuy nhiên, sử sách cũng có ghi lại một câu chuyện về việc Quách Phác tìm mộ cho một viên quan họ Trương, tên Dụ.

Trong sách “Nam Sử” phần Trương Dụ chuyện có kể rằng, khi cố nội Trương Dụ qua đời, người ta có mời Quách Phác xem phong thủy và chọn nơi đặt mộ.

Quách Phác tìm kiếm một hồi thì tìm được hai vị trí tốt để Trương Dụ lựa chọn và nói: “Nếu như chôn ở huyệt mộ thứ nhất thì ông có thể sống tới trăm tuổi, làm quan tới tam tư (tức các chức Đại Tư Mã, Tư Đồ, Tư Không, các chức quan hàng đầu trong triều đình phong kiến thời Hán) nhưng con cháu lại không hưng vượng.

Nếu như chôn ở vị trí thứ hai thì tuổi thọ của ông sẽ giảm đi một nửa, quan vị cũng thấp hơn song tôn tử lại sẽ rất hưng vượng, giàu sang, phú quý”.

Trương Dụ nghe xong, chẳng cần phải suy nghĩ, lựa chọn huyệt mộ thứ hai vì cho rằng, con cháu được giàu sang phú quý vẫn là điều quan trọng hơn cả. Sự thực sau đó diễn ra đúng như Quách Phác đã nói. Trương Dụ chết khi tuổi mới quá 40, thế nhưng con cháu Trương Dụ thì lại làm quan rất to và vô cùng giàu có.

Một câu chuyện khác lại kể rằng, lúc bấy giờ ở Dương Châu có một viên quan tên là Cố Cầu. Chị của Cầu bị bệnh đã hơn 40 năm mà vẫn nằm trên giường không khỏi. Khi nghe tiếng của Quách, Cố Cầu đã tìm tới nhờ Quách bốc cho mình một quẻ xem vì sao bệnh tình của chị mình lâu thế vẫn chưa khỏi.

Quách đồng ý bốc cho Cầu một quẻ. Sau khi bốc quẻ, Quách nói: “Tổ tiên nhà họ Cố trước đây từng giết một con rắn thần, do vậy phần mộ tổ tiên không được yên nên mới sinh bệnh tật ở con cháu”.

Cố Cầu sau đó về tra cứu lại gia phả thì quả thực có chuyện đó từng xảy ra. Sau đó, Cố Cầu đã vội làm lễ tạ tội với linh xà thì bệnh của người chị lập tức khỏi ngay.

Và cũng lắm tật:

Quách Phác là một thầy phong thủy có tài, tuy nhiên, tật cũng nhiều không kém. Sách “Sưu thần ký” có chép một câu chuyện về Quách như rằng, khi Quách hãy còn chưa nổi tiếng, từng có thời gian phụ việc cho quan thái thú Lô Giang là Hồ Mạnh Khang.

Trong thời gian này, Quách Phác để mắt tới một người hầu gái trong phủ họ Hồ, tuy nhiên, do khi đó chưa địa vị, lại cũng chẳng có tiền nên không biết làm thế nào để lấy được người mình yêu.

Cuối cùng, Quách Phác nghĩ ra một kế. Đêm hôm đó, Quách dùng đậu đỏ rắc xung quanh nhà họ Hồ.

Sáng sớm hôm sau, Hồ Mạnh Khang tỉnh dậy muộn, đột nhiên phát hiện ra xung quanh nhà như có hàng ngàn người mặc áo đỏ vây quanh.

Tới khi chạy tới gần xem thì những người ấy hoàn toàn biến mất. Cứ như vậy lặp đi lặp lại nhiều ngày, Hồ Mạnh Khang cảm thấy có điều gì đó bất thường nên đem chuyện này nói với Quách Phác.

Chỉ đợi tới lúc đó, Quách Phác mới nói: “Trong nhà ông có một nữ nô tì mệnh tương khắc với căn nhà này. Vì vậy, muốn tránh tà mà đến như vậy, chỉ còn cách đem nô tì này ra bán ở cách nhà 20 dặm, giá bán phải rẻ thì mới có thể hóa dữ thành lành được”.

Hồ Mạnh Khang tin Quách Phác nói thật, vội vã đem cô nô tì nọ ra bán. Quách Phác đã bố trí người từ trước, đứng sẵn ở đó để đợi mua cô nô tì với giá rẻ.

Hồ Mạnh Khang không những không biết Quách Phác làm trò với mình, thậm chí còn rất cảm kích Quách Phác, khắp nơi truyền tụng Quách Phác là một thầy phong thủy cao tay.

Tuy nhiên, người ta thường nói, đi đêm thì cũng có ngày gặp ma, Quách Phác cuối cùng đã gặp nạn vì nữ sắc. Quách có một người bạn thân tên là Hoàn Di. Do là chỗ bạn thân, nên Hoàn Di thường tùy tiện vào nhà của Quách mà chẳng đánh tiếng. Lần nào Hoàn Di mở cửa vào nhà của Quách Phác, cũng gặp lúc Quách đang vui đùa với tình nhân.

Để hạn chế những tình huống trớ trêu ấy, Quách Phác nói với Hoàn Di rằng: “Hoàn Di à, mỗi lần ông tới đều có thể đi thẳng vào trong nhà tôi, không cần nể nang gì. Tuy nhiên, tuyệt đối không được vào nhà vệ sinh tìm tôi, nếu không chúng ta sẽ gặp đại họa”. Hoàn Di nghe xong rồi để đó chứ không quan tâm tới Quách Phác nói gì.

Một hôm, sau khi uống say, Hoàn Di tới nhà Quách Phác, vào nhà không thấy Quách Phác đâu, Hoàn Di đi thẳng vào nhà vệ sinh để tìm.

Chỉ thấy trong nhà vệ sinh, Quách Phác đang cởi trần, tóc tai rũ rượi, miệng ngậm dao tế lễ, chẳng biết là đang tu luyện hay làm phép. Quách Phác nhìn thầy Hoàn Di thất kinh nói: “Hai chúng ta chết tới nơi rồi!”.

Quả thực, ít lâu sau, Vương Đội định mưu phản mới lệnh cho Quách Phác tới xem việc mưu phản có thành công không.

Quách Phác bốc quẻ nói quẻ không tốt. Vương Đội tức giận, nghĩ rằng, việc chưa bắt đầu đã bị Quách Phác làm cho đen đủi nên tức giận ra lệnh giết chết Quách Phác.


Trích từ phunutoday và sưu tầm

Posted By Unknown19:30

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Kinh dịch: Vén bức màn bí mật Dịch học 5

Lạc Thư - Dịch học[Nhà Phong thuỷ] Trong phần trước, tôi đã nói về phù hiệu chữ Vạn (卍) hiển hiện tại Lạc Thư; lần này, tôi sẽ nói về thể hiện của Thái Cực tại Hà Đồ. Kỳ thực trong khoa học cổ đại Trung Quốc vẫn coi số lẻ là Dương, số chẵn là Âm; những ai hiểu sâu về văn hóa cổ đại Trung Quốc đều biết điểm này. Chúng ta xem Hà Đồ thì có thể nhìn ra được, chính là đen (Âm) trắng (Dương).

Lên xuống thuận nghịch tạo càn khôn

Hà Đồ cổ đại


Hình 1: Hà Đồ


Xin xem hình trên, do Dương từ 1 bắt đầu thăng dần lên theo Dương khí, 1→3→7→9, Âm từ 2 bắt đầu hạ dần xuống theo Âm khí, 2→4→6→8, đây chính là trạng thái ‘Dương thăng Âm giáng’. Hai màu đen-trắng của chúng ta thay nhau biểu thị, xin xem hình dưới:

Hình 2: Âm Dương vận động
Hình 2: Vận động của Âm-Dương trong Hà Đồ

Đồ hình trên thời cổ đại gọi là “Hữu cực đồ”; bởi vì văn hóa Trung Quốc đã bị phá hoại, nên rất ít người biết được đồ hình này. Chúng ta nhìn sự lên xuống của đen-trắng sẽ không khó phát hiện khi đến 7, thì thực ra Dương đã lên đến cực điểm rồi, đến 9 thì đã đi xuống rồi. Cũng như vậy khi đến 6 thì Âm đã xuống thấp cực điểm rồi, đến 8 thì đã đi lên rồi. Cổ nhân nói “vật cực tất phản”, chính là đạo lý này. Xoay ngược lại nói, từ chỉnh thể mà xét, Dương khí vượng nhất là lúc Âm khí dần thăng lên, Âm khí vượng nhất là lúc Dương khí dần hạ xuống. Kỳ thực đây chính là Thái Cực đồ. Do đó dùng hình dưới để biểu thị thì càng dễ lý giải hơn:

Âm dương thái cực
Hình 3: Thái Cực đồ

Theo tôi được biết, ‘Dương thăng Âm giáng’ là một đặc tính rất trọng yếu của Thái Cực. Đương nhiên khi chuyển ngược lại thì là ‘Âm thăng Dương giáng’ rồi. Trong Thái Cực đồ, chủng loại lên xuống này là đồng thời tồn tại. Có thể nhìn thấy nó hoàn toàn bị Pháp lý tầng cao hơn đới động dẫn tới xoay chuyển xuôi ngược. Điều này thể hiện rất nhiều xung quanh chúng ta. Ban ngày Dương khí dần thăng, thủy khí {hơi nước} đều bị đới động thăng lên trên, Âm khí hạ xuống, đến tối chuyển ngược lại. Cổ nhân giảng Dương thanh thăng lên làm trời, Âm trọc hạ xuống làm đất. Bốn mùa cũng là đạo lý này, chớm Xuân nước nóng dần lên (Dương khí), đến mùa Hè là tới cực điểm, sau đó nước bắt đầu lạnh (Âm khí), đến mùa Thu càng lạnh, tới mùa Đông Âm khí trên trời đạt đến cực điểm, bắt đầu một vòng tuần hoàn mới. Trung y giảng 12 kinh tuần hoàn cũng là như vậy, gồm rất nhiều nội dung. Tức là Trung y phát hiện thân thể người nửa thân trên là ‘Dương thăng Âm giáng’, nửa thân dưới là ‘Âm thăng Dương giáng’.

Đây là từ trên xuống dưới mà nhìn; từ một góc độ khác, thì có ‘Dương dọc Âm ngang’. Chúng ta biết rằng ban ngày Dương khí thịnh, còn ban đêm Âm khí thịnh. Con người chúng ta trong một ngày đêm cũng bị đới động biến hóa theo. Ban ngày đứng thẳng sinh hoạt lao động, đến đêm nằm ngang ngả lưng đi ngủ. Tuy nhiên hiện tại hết thảy đều bị phá hoại nghiêm trọng, có người sống về đêm; buổi tối không ngủ, ban ngày mới ngủ. Đâu đâu cũng tồn tại biến dị.

Chính Ngộ

Posted By Unknown01:23

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Kinh dịch: Vén bức màn bí mật Dịch học 4

Hậu thiên bát quái - Thái cực đồ[Nhà Phong thuỷ] Chúng ta biết rằng, thuyết tuần hoàn là tư tưởng mang đậm sắc thái phương Đông, trong thể hệ khoa học thực chứng phương Tây không hề có khái niệm này. Tư tưởng luân hồi của Phật gia cũng có quan hệ với tuần hoàn, nhân quả báo ứng cũng như vậy.

Khám phá về Tuần Hoàn

Điều gì gọi là tuần hoàn? Kỳ thực, tuần hoàn không phải là chuyển động hình tròn hết vòng này đến vòng khác. Tuần hoàn xác thực là xoay tròn, nhưng xoay như thế nào?

Trên thực tế, tuần hoàn theo vòng tròn mà đại đa số chúng ta biết đều thuộc về tuần hoàn theo ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Đây cũng gọi là ‘viên chu tuần hoàn’, theo thứ tự  Càn (☰), Khảm (☵)  Cấn (☶), Chấn (☳), Tốn (☴), Ly (☲), Khôn (☷), Đoài (☱). Nó là một vòng đi theo đường biên ngoài của hình tròn, hoặc thuận chiều kim đồng hồ, hoặc ngược chiều kim đồng hồ. Đây gọi là ‘viên chu tuần hoàn’, là tuần hoàn mang ý nghĩa hậu thiên. Người bình thường chỉ biết được tuần hoàn mang ý nghĩa như vậy.

Còn có một chủng phương thức tuần hoàn nữa, gọi là ‘Thái Cực tuần hoàn’. Đây chính là tuần hoàn mà tôi đã nói qua trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”, đó là 1 Càn (☰), 2 Đoài (☱), 3 Ly (☲), 4 Chấn (☳), 5 Tốn (☴), 6 Khảm (☵), 7 Cấn (☶), 8 Khôn (☷).

Nhìn góc độ khác mà giảng, ‘viên chu tuần hoàn’ là một loại tuần hoàn xuyên thẳng vuông góc với mặt giao giới Âm-Dương. Chúng ta có thể lấy quả địa cầu làm ví dụ. Thái Cực của “Hậu thiên Bát quái phương vị” là trên Âm dưới Dương, cũng tương đương với Nam bán cầu và Bắc bán cầu trên quả địa cầu. Bắc bán cầu đại biểu Âm, Nam bán cầu đại biểu Dương. Tuyến giao giới Nam-Bắc Âm-Dương cũng tương đương với đường xích đạo. Như vậy cái gì trên quả địa cầu Nam-Bắc “Hậu thiên Bát quái” này là viên chu tuần hoàn? Chính là bất cứ đường kinh tuyến hình tròn nào chạy xuyên qua đường xích đạo. Đương nhiên trên “Hậu thiên Thái Cực” chỉ có một viên chu tuần hoàn, chứ không như trên quả địa cầu có vô số đường kinh tuyến hình tròn.

Vậy thì ‘Thái Cực tuần hoàn’ là gì? Thái Cực tuần hoàn chính là tuần hoàn men theo tuyến giao giới Âm-Dương. Nếu có thể quan sát “Tiên thiên Thái Cực” một cách lập thể chứ không phải trên mặt phẳng, thì các bạn sẽ hiểu được cảm giác tuyến giao giới Âm-Dương mà tôi vừa nói. Loại quan sát này hơi khó. Chúng ta có thể lại lấy quả địa cầu làm ví dụ. Như chúng ta đã biết, “Tiên thiên Thái Cực” là phân bố theo trái Dương phải Âm, như vậy ví dụ hình tượng là chúng ta có thể lấy Đông bán cầu là Dương, Tây bán cầu là Âm. Vậy đâu là Thái Cực tuần hoàn? Chính là đường kinh tuyến hình tròn phân chia Đông-Tây bán cầu, trên quả địa cầu là hình tròn hợp thành bởi đường kinh tuyến Greenwich, Anh quốc và đường đổi ngày quốc tế. Đây là chúng ta chỉ lấy làm ví dụ mà thôi.

Tôi lý giải như thế này: ‘viên chu tuần hoàn’ đối ứng với ‘tý ngọ chu thiên’ mà Đạo gia giảng, còn gọi là càn khôn vận chuyển, hoặc hà xa vận chuyển; còn ‘Thái Cực tuần hoàn’ đối ứng với điều gọi là ‘mão dậu chu thiên’. Loại chu thiên này là không được tùy ý giảng cho người ngoài nghe. Về hàm nghĩa chuẩn xác của Tý Ngọ chu thiên và Mão Dậu chu thiên, chỉ những người tu luyện mới hiểu rõ vấn đề này.

Phù hiệu Chữ Vạn và Thái Cực hiện diện trên Hà Đồ Lạc Thư.

Như mọi người đều biết, trong lịch sử Trung Quốc có một số đồ hình gắn liền với dân tộc Trung Hoa, ví dụ Hà Đồ, Lạc Thư, Bát quái, Thái Cực, phù hiệu chữ Vạn (卍), tựa như xuất hiện ngay khi kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu. Trước tiên chúng ta nói về ghi chép liên quan trong văn hiến cổ đại:

Tương truyền vào thời Phục Hy trong Tam Hoàng thời thượng cổ, trên sông Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (đầu rồng mình ngựa), trên lưng có những điểm đen trắng cấu thành một bức đồ; Phục Hy theo đó mà diễn ra Bát quái, bức đồ này gọi là “Hà Đồ”. Rất nhiều người đều thử một quá trình suy luận như vậy, nhưng đều thất bại, từ đó cho rằng đây chỉ là truyền thuyết. Thực ra điều này là có thật, sau đây tôi sẽ nói về quá trình đưa ra như thế nào. Xin xem hình dưới:
Hình 1: Hà Đồ

Hình 1: Hà Đồ.


Tương truyền khi Đại Vũ trong Ngũ Đế trị thủy, trên sông Lạc xuất hiện một con rùa lớn, trên lưng rùa mang hoa văn cấu thành một bức đồ, bức đồ gọi là “Lạc Thư”. Xin xem hình dưới:
Hình 2: Lạc Thư

Hình 2: Lạc Thư

Có người nói Hà Đồ, Lạc Thư đã được thừa nhận và ghi lại rõ ràng trong văn hiến thời cổ đại, nhưng phù hiệu chữ Vạn (卍) là sau này Phật giáo truyền nhập vào mới có. Thực ra điều này không sai; tuy nhiên phù hiệu chữ Vạn (卍) này đã liên tục được lưu truyền lại, chỉ là vô cùng ẩn giấu. Bí mật này kỳ thực ẩn trong Hà Đồ và Lạc Thư.

Lĩnh vực số học của chúng ta đối với nghiên cứu Lạc Thư là có rất nhiều, bởi vì Lạc Thư rất minh hiển, bất luận là ngang, dọc, trái, phải, chéo thì cộng tổng 3 số đều được 15. Đây chính là ma phương trong số học. Tuy rằng số học hiện đại dường như chưa động chạm đến Hà Đồ, nhưng khoa học cổ đại là có nghiên cứu; kỳ thực từ Hà Đồ này chúng ta có thể nhìn ra một quy luật. Lấy 10 và 5 làm trục. 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, bốn cặp số này đều có liên hệ mật thiết với nhau (số sinh - số thành). Hậu thiên bát quái (tượng số): 6.Càn (☰), 1.Khảm (☵); 8.Cấn (☶), 3.Chấn (☳); 4.Tốn (☴), 9.Ly (☲); 2.Khôn (☷), 7.Đoài (☱). Tiên thiên bát quái (tượng số): 1 Càn (☰), 2 Đoài (☱), 3 Ly (☲), 4 Chấn (☳), 5 Tốn (☴), 6 Khảm (☵), 7 Cấn (☶), 8 Khôn (☷).

Trong rất nhiều sách cổ thời cổ đại đều có luận thuật, hơn nữa nhiều ngành học đã vận dụng thành công quy luật này. Ở đây tôi không muốn dẫn giải những thứ này, mà chỉ xin đưa ra mấy câu trong tri thức văn hóa cổ đại Trung Quốc: “Thiên nhất sinh thủy, Địa lục thành chi…” Ai không tin có thể tra thử xem. Tôi có thể đưa ra mấy ví dụ nữa, bàn tính (Cửu cung) của Trung Quốc cũng sinh ra như vậy.

Chúng ta xem hình quan hệ Lạc thư ma phương (Cửu cung)sau đây:

hình 3: Cửu cung Ma phương
Hình 3: Quan hệ giữa Lạc Thư và ma phương

Chúng ta đem quy luật loại này đưa vào Lạc Thư thì có thể được tình huống sau. Lấy 5 làm trung tâm, nối 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 lần lượt có 4 cặp số nối liền. Được hình bên dưới:

Chữ Vạn trên Cửu cung Ma phương
Hình 4: Quan hệ giữa Lạc Thư và ma phương. 
Cộng ngang, dọc, trái, phải, chéo thì đều được 15. 
Nối 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 với 5 được phù hiệu chữ Vạn (卍)

Thật kinh ngạc! Cả người Đông và Tây phương đều thấy vậy! Tiêu chí của Phật gia — phù hiệu chữ Vạn (卍). Chúng ta biết rằng phù hiệu chữ Vạn (卍) này đều từng xuất hiện tại Ấn Độ và Tây Âu. Giới học thuật thường cho rằng Trung Quốc cũng đã sớm có, nhưng không có gì để chứng minh. Chẳng ngờ nó ẩn thân tại nơi đây. Hai đồ hình này đã được lưu truyền rất lâu trong lịch sử Trung Quốc. Khi giao thông trong quá khứ còn chưa thông suốt, cả Đông và Tây phương đều có phù hiệu này, liệu có thể là trùng hợp không?

Chúng ta biết rằng, có hai phù hiệu căn bản và trọng yếu nhất được lưu truyền từ thời cổ đại. Một là Thái Cực đồ của Trung Quốc, và một là phù hiệu chữ Vạn (卍). Số lẻ cấu thành Lạc Thư (9 con số), ở trên đã phân tích qua, ở đó ẩn tàng phù hiệu chữ (卍); còn số chẵn cấu thành Hà Đồ (10 con số), ở đó ẩn tàng Thái Cực. Thực ra Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn (卍) có nguồn gốc sâu xa hơn Hà Đồ, Lạc Thư nhiều, chỉ là hai phù hiệu tạo nên hai đồ hình. Từ đó chúng ta có thể tìm lại quá khứ. Như vậy chúng ta đã biết phù hiệu chữ Vạn (卍) diễn xuất số lẻ, Thái Cực diễn xuất số chẵn. Các con số trong Lạc Thư chia thành hai nhóm, lần lượt là 1, 3, 5, 7, 9 (5 số lẻ) và 2, 4, 6, 8 (4 số chẵn). Chúng ta dùng phù hiệu chữ Vạn (卍) để thay thế số lẻ trong Lạc Thư, lại dùng Thái Cực để thay thế số chẵn, thì sẽ được một đồ hình, với bốn vị trí chính và trung tâm là phù hiệu chữ Vạn (卍), còn tứ giác là bốn Thái Cực.

Cửu cung Ma phương - Thái cực - Chữ Vạn
Hình 5: Phù hiệu chữ Vạn và Thái cực ngay trên lạc thư

Người ta vẫn biết rằng phù hiệu chữ vạn xuất hiện một cách rộng rãi từ 2.500 trước đây, từ thời Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp. Thế nhưng trước đó hàng ngàn năm Phù hiệu chữ vạn đã bí ẩn năm ngay trên lạc thư. Đây là bí ẩn mà trước đây chưa có ai khám phá hay đề cập đến

Có thể có người sẽ thắc mắc rằng nguồn gốc của kinh dịch là từ đạo gia nên dĩ nhiên là có Thái cực, vậy tại sao có cả chữ Vạn của Phật gia trong đây. Bởi lẽ Kinh dịch chứa đựng ảnh tượng vũ trụ, có công năng dự đoán, là thể hiện của thiên ý. Vậy trong vũ trụ có cả Phật Gia và Đạo gia, nếu thiếu đi thì vũ trụ bị khuyết mất, nên đương nhiên phải có cả phù hiệu chữ Vạn của Phật gia.

Tử Nham - Chính Ngộ
-------------
Chú giải:

Chữ Vạn (Chữ Vạn) là tên phiên âm Hán-Việt bắt nguồn từ tiếng Phạn của Ấn Độ Swastika có nghĩa là sự may mắn, một triển vọng tương lai tốt đẹp, sự cát tường như ý.

Đồ hình Pháp Luân

Biểu tượng chữ Vạn (Swastika) là một biểu tượng có từ thời kỳ cổ đại của nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Nó được sử dụng khắp nơi trên thế giới từ cách đây hơn 3000 năm. Nó xuất hiện trong nền văn minh Lưỡng hà tại khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris, một số vùng trong thung lũng Indus trong nền văn minh Ấn Độ, và cả trong văn hóa Hy Lạp cổ đại. Swastika cũng xuất hiện trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành Troy, chứng tỏ nó đã được sử dụng ít nhất từ 1000 năm trước Công nguyên. Ngoài ra, tại Bảo tàng quốc gia Iran hiện có trưng bày một chuỗi hạt bằng vàng được tìm thấy ở vùng Kaluraz, Guilan, Iran có niên đại vào thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên mà trên đó có biểu tượng của chữ Vạn… Tại các đồ gốm được tìm thấy ở vùng Sintashta, Nga có niên đại vào thời kỳ đồ đồng sớm (Early Bronz Age) cũng thấy có khắc biểu tượng của chữ Vạn…

Đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo cố gắng tìm hiểu “lộ trình di cư” của chữ Vạn, gắn nó với hiện tượng “phát tán văn hóa” (Cultural diffusion) nhưng cũng chưa đưa ra được nguồn gốc của biểu tượng chữ Vạn và một “lộ trình di cư” chính xác nhất của chữ Vạn (Swastika) qua các thời đại. Tuy vậy, có thể biết chắc chắn rằng trải qua hàng ngàn năm, Swastika đã có mặt ở hầu khắp các lục địa Á, Âu, Mỹ. Vì thế, Swastika có rất nhiều tên gọi khác nhau. Tiếng Trung Quốc gọi là “wan”, tiếng Hy Lạp – tet-raskelion, tiếng Pháp –croix gammé, tiếng Anh – fylfot, tiếng Đức – hakenkreuz, tiếng Ý – croce uncinata, tiếng Việt gọi là “Vạn” v.v… Nhưng tên gọi phổ biến nhất vẫn là Swastika, bắt nguồn từ chữ svastika (đọc là Suastika) trong tiếng Sanscrit (Phạn ngữ) – ngôn ngữ cổ Ấn Độ.

Trong tiếng Sanscrit: Sv, đọc là su, có nghĩa là tốt lành (good, well); asti có nghĩa tồn tại (to be); ka là một tiếp vĩ ngữ thể hiện một sự vật hay một sự việc nào đó. Vậy Swastika là một sự vật hay một sự việc tồn tại tốt lành, hoặc có trạng thái tốt lành (well-being). Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng chữ Svastika xuất hiện lần đầu tiên dưới dạng ngôn ngữ Phạn cổ điển ở trong bộ sử thi Ramayana và Mahabharata. Theo các chứng cứ khảo cổ học biểu tượng chữ Vạn xuất hiện đầu tiên vào thời kỳ đồ đá mới ở Ấn Độ, nó tìm thấy trên các con dấu trong các di chỉ khảo cổ học của nền văn minh sông Ấn (Indus Valley Civilization) từ khoảng 3.000 – 1.500 năm trước Công nguyên.

Biểu tượng chữ Vạn được coi là biểu tượng linh thiêng của các tôn giáo Ấn Độ như: Ấn giáo (Hinduism), Phật giáo (Buddhism) và Kỳ na giáo. Biểu tượng này trở nên quan trọng đối với Phật giáo trong thời kỳ Hoàng đế Mau-ryan, và là biểu tượng quan trọng của Ấn Độ giáo trong giai đoạn Phật giáo suy giảm giai đoạn Gupta ở Ấn Độ.

Về mặt hình học, biểu tượng chữ Vạn là một hình chữ thập có những cánh tay vuông góc đối xứng. Chiều phải của biểu tượng chữ Vạn được xem như là chiều thuận kim đồng hồ… chiều trái của nó được xem như là chiều ngược lại kim đồng hồ… Chiều thuận và chiều ngược được sử dụng hầu như nhất quán như nhau không khác biệt. Chiều ngược kim đồng hồ xuất hiện ở cả Ấn Độ và Phật giáo. Các nghiên cứu cho thấy Phật giáo ở ngoài Ấn Độ, tại các nước khác thường sử dụng biểu tượng chữ Vạn theo chiều ngược kim đồng hồ, như tại các cửa ra vào của các hang động Phật giáo ở Trung Quốc đều có chạm khắc các biểu tượng chữ Vạn theo chiều ngược chiều kim đồng hồ.

Trong Ấn Độ giáo, biểu tượng chữ Vạn hướng theo hai chiều biểu thị hai ý nghĩa đối lập của Thần sáng tạo Brahma: Chiều thuận chiều kim đồng hồ biểu thị sự tiến hóa, sự phát triển của vũ trụ (Pravritti); chiều ngược chiều kim đồng hồ biểu thị sự rắc rối, phức tạp, phiền não và sự khủng hoảng của vũ trụ (Nivritti). Biểu tượng chữ Vạn bao gồm cả bốn phương hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc, và là dấu hiệu của sự ổn định, cân bằng. Chữ Vạn cũng được sử dụng như là biểu tượng mặt trời của Thần lửa Surya. Trong nghệ thuật Ấn Độ giáo, Thần tài Ganesh thường được diễn tả là ngồi trên hoa sen và trên giường là biểu tượng của chữ Vạn. Kỳ Na giáo, chữ Vạn còn được sử dụng nhiều hơn trong Ấn Độ giáo, chữ Vạn được coi là một trong 24 tướng quý, là biểu tượng của vị thánh thứ bẩy là Tirthankara Suparsva.

Biểu tượng chữ Vạn trong Phật giáo được xem như biểu thị cho chữ Pháp (Dharma), thể hiện sự hài hòa, sự hòa hợp, và cân bằng âm dương của vũ trụ. Khi chữ Vạn quay theo chiều trái, ngược với chiều quay kim đồng hồ là sự thể hiện tình thương và lòng từ bi cứu khổ, lòng nhân từ, khoan dung trong Đạo Phật. Chiều thuận theo chiều quay của kim đồng hồ thể hiện cho sức mạnh, trí tuệ và trí thông minh, sự bền vững, trường tồn, bất diệt. Trong tiếng Hán, chữ Vạn (wan) biểu thị cái bao trùm tất cả (all) và sự vĩnh hằng (eternalilty).

Trong kinh Kim Cương Bát Nhã (Vijracchedika Prajna Paramita Sutra) Đức Phật là Thánh Vương chuyển luân có 32 tướng tốt, và biểu tượng chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của Phật. Trong kinh Trường A Hàm thì ghi cụ thể hơn, chữ Vạn là tướng tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật.

Posted By Unknown01:09

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Thiệu Ung - Thiệu Khang Tiết: Mai Hoa Dịch Số

Thiệu Ung - Thiệu Khang Tiết[Nhà Dịch Học] Thiệu Ung, tự Nghiêu Phu, hiệu Khang Tiết, sinh năm thứ 4 Tống Chân Tông, tức năm 1011 SCN, mất năm thứ 10 Tống Thần Tông, tức năm 1077 SCN, hưởng thọ 67 tuổi. Ông sinh ra tại Phạm Dương, Hà Bắc.

Đứng bên bờ sông Trường Giang, ngắm nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy về Đông, một đi không trở lại… 2.500 năm trước, Khổng Phu Tử cảm thán: “Thời gian như dòng nước! Trôi không quản ngày đêm”. 1.500 năm sau, Tô Đông Pha đứng trước cơn sóng lớn Trường Giang mà phiền muộn: “Sông lớn cuồn cuộn chảy về Đông, Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng”. Sông Trường Giang này, tưởng như vô tình. Mấy trăm năm, mấy nghìn năm, vẫn chảy xiết về phía trước không do dự. Đúng là nó đã đi theo dòng chảy suốt lịch sử nhân loại, chứng kiến tất cả thiện-ác, trung-gian, ái-hận, tình-sầu; biết bao vui buồn ly hợp, thế sự đổi thay. Vừa mới Hán Sở tranh hùng, đã tới Tam Quốc diễn nghĩa; rồi mới có Trinh Quán thịnh trị, sau đó là quý phi túy tửu; có Nhạc Phi tinh trung báo quốc, cũng có Tần Cối âm hiểm độc ác; có Thành Cát Tư Hãn xưng bá thiên hạ, cũng có ngày lễ của Hoàng đế Vĩnh Lạc triều Minh; thế mới có Khang Hy thịnh thế, sau đó là Nha Phiến quốc sỉ;…


Lịch sử, nếu xem trong một thời-không ngưng đọng, thì cũng như một vở kịch, với trời làm màn, đất là đài, ngày đêm không ngừng xoay vần mà diễn biến. Các nhân vật trong vở kịch này, bất luận là anh hùng đội trời đạp đất, thét mây hô gió như thế nào, thì đều trôi dạt trong cõi hồng trần cuồn cuộn. Liệu ai có thể thực sự làm chủ vận mệnh của chính mình?

Tài năng kinh thiên động địa, tấm lòng cúc cung tận tụy như Gia Cát Lượng, cũng không thực hiện được chí lớn khôi phục Hán thất. Tài trí mưu lược, chí khí ngút trời như Nhạc Phi, cũng chỉ có thể để lại nỗi buồn vô hạn dưới đình Phong Ba. Thị phi thành bại theo dòng nước, Sừng sững cơ đồ bỗng tay không! Giữa dòng sông lớn lịch sử này, rốt cuộc là ai làm chủ? Dòng chảy lịch sử vĩ đại này rốt cuộc có chủ đề và kịch bản hay không?

Tuy nhiên, giữa cõi trần thế náo nhiệt ồn ã này, bỗng chốc vang lên một thanh âm siêu nhiên, âm lượng nhẹ nhàng mà kiên định; nó là âm thanh ngoài trần thế, chỉ điểm bến mê. Nó thời thời khắc khắc cảnh tỉnh thế nhân: Mang mang Thiên số đã sớm định trước, Thế Đạo hưng suy bất tự do vậy. Nó chính là một dự ngôn lưu danh thiên cổ. «Mai Hoa Thi» của Thiệu Ung thời Bắc Tống chính là một khúc thanh âm như vậy. Từ hơn 1.000 năm trước, nó đã chỉ điểm chỗ mê cho chúng sinh, giảng rõ khúc chủ đề nhấp nhô trầm bổng. Chúng ta hãy tĩnh tâm lắng nghe và thưởng thức bài thơ «Mai Hoa Thi» này.

Thiệu Ung - Thiệu Khang Tiết:

Thiệu Ung - Thiệu Khang TiếtĐể hiểu được «Mai Hoa Thi», thì không thể không tìm hiểu về kỳ nhân Thiệu Ung. Thiệu Ung, tự Nghiêu Phu, hiệu Khang Tiết, sinh năm thứ 4 Tống Chân Tông, tức năm 1011 SCN, mất năm thứ 10 Tống Thần Tông, tức năm 1077 SCN, hưởng thọ 67 tuổi. Ông sinh ra tại Phạm Dương, Hà Bắc, sau theo cha di cư tới Cộng Thành, cuối đời ẩn cư tại Lạc Dương. Thiệu Ung, tuy không phải là “nhà nhà đều biết” như Gia Cát Khổng Minh, nhưng xét về tài năng và phẩm đức, thì cũng không thua gì Gia Cát Lượng. Chẳng qua, ông trường kỳ ẩn cư, tên tuổi không được người đời sau biết đến nhiều. Trình Hạo, một trong những ông tổ của Lý học triều Tống từng ca ngợi Thiệu Ung như sau: “Nghiêu Phu, ấy là bậc thầy về cái học của nội Thánh ngoại Vương vậy!”

Thuở thiếu thời, Thiệu Ung đã ôm ấp chí lớn, nỗ lực khắc khổ đọc sách, không có sách nào là chưa đọc. Theo “Thiệu Ung truyện” trong sử triều Tống thì: Thiệu Ung “ban đầu học, sau chịu đựng gian khổ, lạnh không có lò sưởi, nóng không có quạt mát, đêm tối cũng không có một tấm chiếu để nằm trong mấy năm”. Sau đó, để tăng cường kiến thức, ông còn du học tứ phương, vượt Hoàng Hà, qua Phần Hà, lội Hoài Thủy, vượt Hán Thủy, qua các đất Tề, Lỗ, Tống, Trịnh, v.v. Sau khi trở về, ông nói “Đạo là đây rồi”, sau đó không vân du nữa. Bấy giờ có cao nhân Lý Đỉnh Chi, thấy ông ham học không biết mệt mỏi, mới truyền thụ cho ông “Hà Đồ”, “Lạc Thư”, “Phục Hy Bát quái” và các bí quyết Dịch học khác.

Thiệu Ung thông minh tài trí, thông hiểu đạo lý, tự học tự đắc, cuối cùng trở thành một bậc thầy về Dịch học, một nhà Nho nổi tiếng xa gần. Ông hình thành cho mình một vũ trụ quan độc đáo mà hoàn chỉnh, các quy luật vận hóa của Thiên Địa, biến hóa của Âm Dương đều nắm trong lòng bàn tay. “Tống sử” cũng ghi lại như sau: Ông đối với “thế sự cổ kim xa gần, thậm chí tính nết của cây cỏ chim muông” thì đều có thể “thông suốt”, thậm chí “hiểu được suy nghĩ người khác, biết trước việc chưa xảy ra”. Trình Di, một ông tổ khác của Lý học Bắc Tống nói: Thiệu Ung “tấm lòng vừa trống vừa sáng, mà có thể biết tất cả”. Sau đó, Thiệu Ung viết các trước tác «Hoàng Cực kinh thế», «Quan vật nội ngoại thiên», v.v. tổng cộng hơn 1 vạn chữ.

Ông cho rằng lịch sử là chiểu theo định số mà diễn hóa. Ông dùng Tiên thiên Dịch số của mình, cũng như các khái niệm nguyên, hội, vận, thế, v.v. để suy luận diễn hóa của Trời Đất và tuần hoàn của lịch sử. Các tác phẩm Dịch học có ảnh hưởng rất lớn với đời sau như «Thiết Bản thần số», «Mai Hoa tâm dịch», đều là của Thiệu Ung. Người đời sau tôn xưng ông là “Thiệu Tử”. Thời trung niên, ông không màng danh lợi, ẩn cư tại Lạc Dương, viết sách dạy học. Các học sĩ nổi tiếng thời bấy giờ như Phú Bật, Tư Mã Quang, Lã Công Trứ, v.v. đều rất kính trọng ông. Họ từng góp tiền mua cho ông một khu vườn, gọi là “An Lạc Oa”, do vậy Thiệu Ung còn có tự hiệu là “An Lạc tiên sinh”.

Ông không chỉ thông hiểu cổ kim, tài năng cái thế, mà còn phẩm đức đôn hậu, đãi người chân thành. Điều này khiến ông nức danh xa gần, đi đâu cũng được người ta tranh nhau mời lưu lại, có người còn gọi nơi Thiệu Ung từng nghỉ lại là “Hành Oa”. Uy vọng của ông trong tâm người đời là rất lớn. Ngày nay, người hiểu rõ Thiệu Ung và các tác phẩm của ông quả thực là không nhiều. Tuy nhiên trong dân gian vẫn lưu truyền một số lời răn của ông. Ví như, người ta thường nói: “Nhất niên chi tế tại vu xuân, Nhất thiên chi tế tại vu thần, Nhất sinh chi tế tại vu cần” (Ranh giới một năm là mùa Xuân, Ranh giới một ngày là bình minh, Ranh giới một đời là chuyên cần), ấy là xuất phát từ Thiệu Ung.

Thiệu Ung còn có tài tiên tri tiên liệu, lưu lại hậu thế một dự ngôn chuẩn xác đến kinh người, một kiệt tác truyền đời của ông — «Mai Hoa Thi», tiên tri về những diễn biến lịch sử trọng đại phát sinh tại Trung Quốc sau khi ông mất. Tất nhiên, «Mai Hoa Thi» cũng như các dự ngôn khác, dùng ngôn ngữ rất kín đáo ẩn dụ, không dễ mà lý giải. Có một bộ phận, nếu như không phải là người tu luyện thông hiểu Phật lý Đạo học, thì khó mà hiểu được. Toàn bộ bài thơ có thể được chia làm 10 tiết nhỏ, sau đây chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứu:
Cổ Đại Thuật Số - Mai Hoa Thi
Cổ Đại Thuật Số - Mai Hoa Thi
«Mai Hoa Thi» Dư Đoán Học:

(一)
荡荡天门万古开,几人归去几人来。
山河虽好非完璧,不信黄金是祸胎。
Tiết 1
Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai,
Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai.
Sơn hà tuy hảo phi hoàn bích,
Bất tín Hoàng Kim thị họa thai.
Tạm dịch:
Dần từ vạn cổ cổng trời khai mở,
Hỏi mấy người đến mấy người trở về.
Non sông tuy đẹp mà không toàn vẹn,
Không tin Hoàng Kim là mầm tai họa.

(二)
湖山一梦事全非,再见云龙向北飞。
三百年来终一日,长天碧水叹弥弥。
Tiết 2
Hồ Sơn nhất mộng sự toàn phi,
Tái kiến Vân Long hướng Bắc phi.
Tam bách niên lai chung nhất nhật,
Trường thiên bích thủy thán di di.
Tạm dịch:
Một giấc mộng Hồ Sơn mà hỏng cả,
Lại thấy Rồng Mây hướng phía Bắc bay.
Ba trăm năm hết chỉ nội một ngày,
Non xanh nước biếc than ôi còn đâu.

(三)
天地相乘数一原,忽逢甲子又兴元。
年华二八乾坤改,看尽残花总不言。
Tiết 3
Thiên địa tương thừa số nhất nguyên,
Hốt phùng giáp tử hựu hưng Nguyên.
Niên hoa nhị bát càn khôn cải,
Khán tận tàn hoa tổng bất ngôn.
Tạm dịch:
Số nhân của Trời Đất đến một nguyên,
Hốt gặp giáp tử thì lại hưng Nguyên.
Được tám tám năm thì càn khôn đổi,
Xem hết hoa tàn mà vẫn không tâu.

(四)
毕竟英雄起布衣,朱门不是旧黄畿。
飞来燕子寻常事,开到李花春已非。
Tiết 4
Tất cánh anh hùng khởi bố y,
Chu môn bất thị cựu hoàng kỳ.
Phi lai yến tử tầm thường sự,
Khai đáo Lý hoa xuân dĩ phi.
Tạm dịch:
Rốt cuộc là anh hùng từ áo vải,
Lầu son đâu phải cờ vàng ngày xưa.
Chim én bay đến ấy chuyện tầm thường,
Nở tới hoa mận thì xuân đã qua.

(五)
胡儿骑马走长安,开辟中原海境宽。
洪水乍平洪水起,清光宜向汉中看。
Tiết 5
Hồ nhi kỵ mã tẩu Trường An,
Khai tích Trung Nguyên hải cảnh khoan.
Hồng thủy sạ bình hồng thủy khởi,
Thanh quang nghi hướng Hán Trung khán.
Tạm dịch:
Kỵ mã của trẻ Hồ tới Trường An,
Khai thác vùng hải cảng tại Trung Nguyên.
Hồng thủy bình rồi lại hồng thủy khởi,
Ánh sáng trong phải hướng Hán Trung xem.

(六)
汉天一白汉江秋,憔悴黄花总带愁。
吉曜半升箕斗隐,金乌起灭海山头。
Tiết 6
Hán thiên nhất bạch Hán giang thu,
Tiều tụy hoàng hoa tổng đới sầu.
Cát diệu bán thăng Ki Đẩu ẩn,
Kim Ô khởi diệt hải sơn đầu.
Tạm dịch:
Trời Hán sáng tỏ, sông Hán mùa thu,
Hoa cúc vàng tiều tụy vẫn ưu sầu.
Ánh cát tường nửa thăng, Ki Đẩu ẩn,
Mặt trời vụt tắt trên đầu núi biển.

(七)
云雾苍茫各一天,可怜西北起烽烟。
东来暴客西来盗,还有胡儿在眼前。
Tiết 7
Vân vụ thương mang các nhất thiên,
Khả liên Tây Bắc khởi phong yên.
Đông lai bạo khách Tây lai đạo,
Hoàn hữu Hồ nhi tại nhãn tiền.
Tạm dịch:
Mây mù mờ mịt hết một ngày đêm,
Thảm thương Tây Bắc khói lửa chiến tranh.
Cướp đến từ Đông, giặc đến từ Tây,
Còn có trẻ Hồ ở ngay trước mắt.

(八)
如棋世事局初残,共济和衷却大难。
豹死犹留皮一袭,最佳秋色在长安。
Tiết 8
Như kỳ thế sự cục sơ tàn,
Cộng tề hòa trung khước đại nạn.
Báo tử do lưu bì nhất tập,
Tối giai thu sắc tại Trường An.
Tạm dịch:
Như ván cờ mới rơi vào thế tàn,
Đồng lòng giúp nhau nhưng gặp đại nạn,
Con báo chết còn lưu lại bộ da,
Sắc thu đẹp nhất ở tại Trường An.

(九)
火龙蛰起燕门秋,原璧应难赵氏收。
一院奇花春有主,连宵风雨不须愁。
Tiết 9
Hỏa long trập khởi Yên Môn thu,
Nguyên bích ưng nạn Triệu thị thu.
Nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ,
Liên tiêu phong vũ bất tu sầu.
Tạm dịch:
Rồng lửa khởi đau buồn từ Yên Môn,
Nguyên bích chịu nạn, họ Triệu thu về,
Một vườn hoa đẹp, mùa xuân có chủ,
Mưa gió suốt đêm không phải ưu sầu.

(十)
数点梅花天地春,欲将剥复问前因。
寰中自有承平日,四海为家孰主宾。
Tiết 10
Số điểm mai hoa thiên địa xuân,
Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân.
Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật,
Tứ hải vi gia thục chủ tân.
Tạm dịch:
Số điểm hoa mai trời đất là xuân,
Muốn biết Bác Phục hỏi nguyên nhân xưa.
Trong hoàn vũ tự hưởng ngày thái bình,
Bốn biển là nhà hỏi ai chủ khách.

* * *
Lời bài hát:
(Hán Việt)
Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai,
Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai.
Du du thanh sử đa thiểu sự,
Bất tri nhân sinh thị hí đài.
Chân kim na phạ lô hỏa luyện,
Trọc thế nê lý đính thanh liên.
Mạn thiên phong tuyết ngạo chi mai,
Vi đắc chân Pháp nhẫn vạn thiên.

Bất kinh nhất phiên hàn triệt cốt,
Na lai mai hoa phác tỵ hương.
Nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ,
Liên tiêu phong vũ bất tu sầu.
Số điểm mai hoa thiên địa xuân,
Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân.
Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật,
Tứ hải vi gia thục chủ tân.

(Tạm dịch)
Từ vạn cổ cổng trời khai mở,
Mấy người đến mấy người trở về?
Sử xanh đằng đẵng bao nhiêu chuyện,
Đâu biết nhân sinh là đài diễn.
Vàng thật nào sợ nung trong lửa,
Đóa sen tinh khiết giữa bùn dơ.
Khắp trời hoa mai ngạo sương tuyết,
Để đắc chân Pháp nhẫn vô bờ.

Không chịu một phen lạnh thấu xương,
Khó biết hoa mai tỏa mùi hương.
Một vườn hoa đẹp xuân có chủ,
Mưa gió suốt đêm chẳng sầu thương.
Số điểm hoa mai trời đất xuân,
Muốn biết Bác Phục hỏi nguyên nhân.
Hưởng ngày thái bình khắp hoàn vũ,
Bốn biển là nhà ai chính-phụ.

(Hết)
Sưu tầm & tổng hợp: Phong thuỷ thực nghiệm
Nguồn Internet


Posted By Unknown19:22