Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Phong thủy: Làng bát quái trận đồ họ Gia Cát

Nhung ngoi nha co[Xem phong thủy] - Giữa những ngôi nhà cổ trong thôn Bát Quái có rất nhiều ngõ ngách nhỏ, nhà nọ thông sang nhà kia, khúc khuỷu quanh co, chỗ tưởng ngõ thông hóa ra lại là ngõ cụt, biến hóa tài tình dường như không theo quy luật nào…

Trong tiềm thức của người dân Á Đông chịu ảnh hưởng khá lớn từ văn hóa Trung Hoa, Gia Cát Lượng luôn là một hình tượng tuyệt vời của trí tuệ vô song qua ngòi bút tài tình của tác giả La Quán Trung trong bộ tiểu thuyết dã sử “Tam Quốc diễn nghĩa”.

Tài, đức, cuộc đời và sự nghiệp của một nhân vật tầm cỡ nhường ấy, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, “lại sai khiến được cả quỷ thần” theo như nhận xét của Chu Du luôn luôn là đề tài không mới nhưng đầy sức hấp dẫn thêu dệt nên nhiều giai thoại, nhiều câu chuyện trong dân gian.

Bình sinh, sở học của ông được ghi chép lại cả và trao lại cho Khương Duy, hiệu Bá Ước, trong đó có Bát trận đồ - đỉnh cao nghệ thuật quân sự do chính Khổng Minh sáng tạo ra.


Trải qua quá trình biến thiên của lịch sử, bản Bát Trận đồ lưu lạc nơi đâu vẫn còn là một câu hỏi lớn, sự kỳ diệu của “Bát trận đồ” thực hư ra sao vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, vùng đất Lan Khê thuộc địa bàn tỉnh Triết Giang ngày nay có một thôn tên gọi Bát Quái với kiến trúc đặc biệt có một không hai được cho là mô phỏng theo Bát Trận đồ của Khổng Minh.

Thôn Bát Quái tọa lạc tại ngoại ô phía Tây thành phố Lan Khê vốn xưa có tên gọi Cao Long. Đại bộ phận người dân thôn Bát Quái với hơn 3000 nhân khẩu mang họ Gia Cát được coi là hậu duệ của Thừa tướng, Trung Vũ hầu lừng danh nhà Hậu Hán.

Hậu duệ của ông hiện sinh sống trải khắp đất nước Trung Quốc, nhưng tập trung đông nhất vẫn là thôn Bát Quái. Tương truyền, thôn Bát Quái được thành lập do Gia Cát Đại Sư, hậu duệ đời thứ 20 của Khổng Minh sống vào thời Nam Tống đưa theo gia đình vợ con tới đây lập nên năm 1340.


Để tỏ lòng tưởng nhớ Gia Cát Lượng, cụ tổ 20 đời trước là bậc danh tướng tài ba của mọi thời đại, con cháu ông đã chọn địa điểm xây dựng thôn Bát Quái dựa theo Bát Trận đồ của Khổng Minh. Hồ Chuông là hình ảnh thái cực với hai nửa âm dương rõ rệt, nằm ở trung tâm và là điểm trũng nhất của thôn Bát Quái.

Từ con đường vành khuyên ven hồ có 8 ngả đường chính dẫn ra các hướng thông với vành đai ngoài, tạo thành tám cung Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, Càn. Đường vành đai ngoài bao bọc thôn Bát Quái cao hơn mặt bằng chung của thôn, mỗi một cung lại có một gò đất khá cao, đứng từ trên gò có thể quan sát khá rõ toàn cảnh của thôn và cũng là mô hình biến hóa khôn lường của Bát Quái trận.

Được xây dựng từ thời Nam Tống, nhưng kiến trúc các công trình, nhà cửa của thôn Bát Quái còn bảo tồn gần như nguyên vẹn những đặc điểm nổi bật của kiến trúc thời nhà Minh. Giữa những ngôi nhà cổ có rất nhiều ngõ ngách nhỏ, nhà nọ thông sang nhà kia, khúc khuỷu quanh co, chỗ tưởng ngõ thông hóa ra lại là ngõ cụt, biến hóa tài tình dường như không theo quy luật nào.


Ven hồ Chuông, người dân thôn Bát Quái còn xây dựng 2 từ đường thờ phụng Gia Cát Lượng, một là Đại công đường, hai là Thừa tướng từ đường với pho tượng Khổng Minh bằng đồng đang cầm quạt lông ngỗng, tư thế thanh thoát, thần thái trang nghiêm. Hai công trình này là nơi thờ tự Khổng Minh duy nhất từ thời Minh vẫn còn giữ được nguyên hiện trạng.

Tư tưởng âm dương, bát quái là một đặc trưng nổi bật làm nên văn hóa Trung Hoa ăn sâu vào trong tiềm thức mọi người, để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực. Cùng với Bát Quái thôn, cũng trong địa bàn Triết Giang còn có ruộng Bát Quái tọa lạc tại phía nam núi Ngọc Hoàng ngoại ô Hàng Châu.


Theo ghi chép trong cuốn “Tây Hồ du lãm chí”, tháng Giêng năm 1143, ông vua Nam Tống là Tống Huy Tông dẫn theo bách quan đến Nam Giao (Hàng Châu ngày nay) làm lễ tịch điền cầu cho mùa màng bội thu. Thửa ruộng nơi Tống Huy Tông cày được thiết kế thành đồ hình Bát quái với ý nghĩa cầu mong cho vua chúa nhà Tống phúc thọ dồi dào, người nông dân mùa màng tươi tốt. Từ đó trở về sau, Bát Quái điền trở thành một danh lam mà nhiều tao nhân mặc khách Trung Quốc thường hay lui tới thưởng ngoạn.

Người dân thôn Ngọc Hoàng vẫn cấy hái, canh tác ngay trên thửa ruộng đặc biệt này. Ngoại trừ vòng tròn âm dương ở giữa được trồng trà Long Tỉnh, một loại trà đặc sản của Hàng Châu và đã nổi tiếng khắp thế giới, trên 8 cung vòng ngoài, theo mùa vụ trong năm người ta cấy lúa, trồng đậu, vừng, ớt, bốn mùa xanh tốt.


Ngoài ruộng Bát quái do bàn tay con người tạo ra ở Hàng Châu, thôn Vạn Phong, huyện Hưng Nghĩa tỉnh Quý Châu cũng có một thửa ruộng Bát quái nhưng thửa ruộng này được hình thành hoàn toàn tự nhiên theo địa thế trũng dần vào tâm tạo thành đồ hình Bát quái khá độc đáo.

Đặc biệt dưới thửa ruộng ấy có một mạch nước ngầm chảy qua, vượt hơn 20 km đồng ruộng mới xuất hiện thành dòng đổ ra sông Chu Giang. Hàng trăm năm nay người dân địa phương vẫn canh tác bình thường trên thửa ruộng đặc biệt này và nhiều người quan niệm, ai được đặt chân lên thửa ruộng này sẽ thăng quan phát tài.

Nhà phong thủy sưu tầm
Theo 24h

Posted By Unknown21:02

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Học phong thủy với lăng tẩm Huế

Xem phong thủy - Hệ thống lăng tẩm ở Huế gắn liền với sự thăng trầm của chiếc ngai vàng triều Nguyễn (1802 - 1945). Trải qua 13 đời vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp mà hiện còn 7 khu lăng tẩm theo thứ tự: Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng), Minh Mạng (Hiếu Lăng), Thiệu Trị (Xương Lăng), Tự Đức (Khiêm Lăng), Dục Đức (An Lăng), Đồng Khánh (Tư Lăng) và Khải Định (Ứng Lăng).

"Gió về mang cả mùi lăng tẩm"

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi Huế là xứ sở của "Lăng miếu trùng vây". Có thể nói, ngoài bề dày lịch sử của đất thần kinh, "Văn hóa lăng tẩm" là một bộ phận quan trọng và độc đáo cấu thành di sản văn hóa Huế.

Nếu đứng từ vị trí trung tâm của Cố đô, 7 khu lăng này đều nằm về hướng tây của kinh thành Huế, đó là biểu tượng "Thái dương tây hạ" (Mặt Trời lặn phía Tây) - chỉ việc băng hà của đấng Chí tôn.

Theo quan niệm xưa "Thứ nhất dương cơ, thứ hai âm phần", việc xây cất quan trọng sau cung điện là lăng mộ. Từ thời Lý về trước, lăng mộ các vua rất đơn giản, nay chỉ còn dấu vết ít ỏi. Từ đời Trần, Lê về sau, mỗi vua có một lăng riêng, nhưng tẩm thờ thì chung. Đến thời Nguyễn, các vua mới có lăng tẩm mộ to thờ riêng từng người.

Thủy tạ trong Khiêm lăng

Thuật phong thủy là yếu tố phải tuân thủ triệt để trong kiến trúc lăng tẩm Huế. Với quan niệm "Tức vị trị lăng", ngay khi tại vị, vua đã cho tiến hành khảo sát địa thế, lập đồ án xây dựng lăng tẩm cho mình. Các quan ở Khâm Thiên Giám, bộ Lễ, bộ Công đi tìm cuộc đất, ngày khởi công, trình đồ án kiến trúc cho vua ngự duyệt.

Các thầy địa lý nổi tiếng nhất phải mất hàng tháng hoặc hàng năm trời dò tìm long mạch để có địa cuộc đại cát hội đủ các yếu tố minh đường huyền thủy, tiền án hậu chẩm, sơn triều thuỷ tụ, tả thanh long hữu bạch hổ... Huyền cung (nơi đặt quan tài) phải đúng long mạch. Ngoài sông, núi, khe, hồ của tự nhiên là lầu, đài, đình, tạ hoặc đắp thêm núi đất làm án, chẩm; hoặc đào thêm hào, khe làm huyền thủy... hình thành nên những tòa lăng tẩm với kiến trúc độc đáo, cảnh quan hài hoà, hùng vĩ mà thơ mộng. Hầu hết các lăng đều nằm trên những đồi cỏ mượt với ngút thông xanh, cổ thụ sum xuê toả bóng xuống mặt hồ lặng biếc.

Mộ vua Tự Đức trong Khiêm lăng

Nhìn bao quát không gian lớn mới thấy hết vẻ hoành tráng của lăng và mối liên hệ với những thực thể địa lý xa đến hàng chục cây số. Lăng Gia Long có diện tích hơn 20ha, nằm trên núi Thiên Thụ, có núi án là Đại Thiên Thụ, xung quanh có 36 ngọn núi chầu vào. Lăng này do thầy phong thủy Lê Duy Thanh, là con của nhà bác học Lê Quý Đôn, tìm ra địa cuộc. Vua Gia Long đích thân cưỡi voi đi khảo sát trước khi chuẩn y.

Lăng Minh Mạng rộng 15ha, nằm trên núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn), có núi Kim Phụng chầu, toàn lăng như một người nằm gối lên đồi cao, chân tay duỗi ra phía ngã ba sông. Quan Lê Văn Đức tìm ra đất này được vua thăng hai cấp.

Lăng Thiệu Trị nằm trên núi Thuận Đạo, rộng 6ha, theo phong thủy là thế "sơn chỉ thủy giao"(núi dừng, nước giao). Phía trước có đồi Vọng Cảnh chầu bên phải, núi Ngọc Trản chầu bên trái thành thế "tả thanh long, hữu bạch hổ". Trước lăng khoảng 9km có núi Chằm làm tiền án, phía sau có núi Kim Ngọc làm hậu chẩm.

Sống gửi thác về

Khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính là lăng và tẩm. Lăng là nơi an táng thi hài vua, tẩm là hành cung nơi vua làm việc, sinh hoạt, giải trí kiến trúc mô phỏng như hoàng cung. Vua thỉnh thoảng ngự giá đến đây để tiêu khiển, ngắm cảnh, làm thơ, nhìn ngắm sinh phần của mình mà ý thức rằng cõi trần tạm bợ, đời người chóng qua như giấc mộng: "Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê/Sống gửi rồi ra lại thác về/Khôn dại cùng chung ba tấc đất/Giàu sang chưa chín một nồi kê..."(Ngẫm sự đời - Vua Tự Đức).

Với quan niệm "Sống gửi thác về", lăng tẩm là hoàng cung vĩnh hằng của các vị vua. Vì thế, trong hầu hết các lăng tẩm đều trang trí vô số hoa văn các chữ "thọ", "hỷ", hình ảnh sông núi thân quen, những bức họa sinh động để không có cảm giác chết chóc, nặng nề.

Lăng được kiến trúc từ thấp lên cao. Ngoài cùng là thành bao bọc, có hồ thả sen, bờ hồ trồng sứ, cây cảnh. Cổng chính là đến một sân gạch rộng, hai bên sân có đúc tượng người, voi, ngựa bằng đá. Trên cuối sân là Bái đình để các quan làm lễ khi tế tự. Tiếp đó là Bi đình (nhà bia) là toà nhà nhỏ có một tấm bia lớn trên bệ đá cao gọi là bia Thánh đức thần công. Trong bia khắc bài ký ghi nhớ công đức của vua.

Tòa Bi Đình

Sau lưng Bi đình là hai trụ hoa biểu (trụ dẫn linh hồn) cao vút. Qua Bi đình là tẩm điện, thờ thần vị của hoàng đế và hoàng hậu, bên ngoài bày những đồ ngự dụng lúc sinh thời. Phía trong Tẩm điện và hai bên có hai dãy nhà lớn gọi là Tả hữu tùng viện để các bà phi và kẻ hầu ở. Theo nhà nghiên cứu Phan Văn Dật thì đến năm 1901, tức 14 năm sau khi vua Dực Tông băng hà, còn có 47 bà phi sống trong Khiêm Lăng.

Lăng tẩm ngày nay vắng bóng cung nga, khói hương tàn lạnh, tường xanh rêu phủ, nhưng dường như trong không gian se sắt ấy phảng phất bóng u linh rì rào trên ngọn thông, khối đá khiến lòng người chùng xuống. Cảnh sắc ấy thật u uẩn mà cũng thật thi vị, như thi sĩ Bích Lan từng viết: Kìa núi Ngự sông Hương cùng lăng tẩm/Vẫn âm thầm chờ đón các thi nhân...

------------

Nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An đã đúc kết phong cách nghệ thuật của bảy khu lăng tẩm như sau: Lăng Gia Long hoành tráng; Lăng Minh Mạng thâm nghiêm; Lăng Thiệu Trị thanh thoát; Lăng Tự Đức thơ mộng; Lăng Dục Đức đơn giản; Lăng Đồng Khánh xinh xắn; Lăng Khải Định tinh xảo.

Theo Hàn Phong - Kienthucnet

Posted By Unknown19:36

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Cận cảnh cổ vật ẩm thực cung đình Huế

[Nhà Nguyễn] Gần 90 cổ vật ẩm thực cung đình với những nét hoa văn tinh xảo được dùng trong cung vua, phủ chúa đã được trưng bày tại nhà Tả Vu, Đại nội Huế, thu hút đông đảo du khách tham quan.











 Trong ảnh là khay đựng trà được trạm khắc tinh xảo. 

Đồ uống trà và khay trà thời Nguyễn. 

Hộp đựng bánh bằng gỗ thế kỷ 19. Các cổ vật này được chế tác tại xưởng sản xuất vật dụng cung đình do những bàn tay nghệ nhân tài hoa, hoặc được triều đình chọn mua, đặt hàng từ các xưởng sản xuất nổi tiếng trên thế giới. 

Khuôn bánh bằng đồng thế kỷ 19-20. 

Tẩu, hộp đựng thuốc hút dùng trong cung đình thế kỷ 19. 


Tô, chén thời vua Thiệu Trị. 

Những cổ vật thời Pháp thuộc như bình đựng nước sốt… 

...chén đựng nước mắm. 

Cơi trầu bằng bạc thế kỷ 19. 

Ống nhổ bằng bạc thời vua Khải Định. 

Bình vôi để ăn trầu được làm bằng đồng. 

Bộ uống rượu bằng bạc thời vua Minh Mạng. 


Bộ uống rượu thời Đồng Khánh. 

Ché rượu thời Nguyễn. 

che ruou
Cận cảnh ché rượu thời Nguyễn được tráng men với hình cặp rồng
đang đứng chầu. 

Cậu bé người Pháp chụp ảnh cổ vật ẩm thực cung đình triều Nguyễn. 

Triển lãm thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. 

Theo Văn Nguyễn - vnexpress

Posted By Unknown06:26

Cổ vật triều Nguyễn

[Nhà Nguyễn] Hơn 450 cổ vật cung đình tiêu biểu của triều Nguyễn từ thế kỷ 17 đến 20 và các vật dụng vùng đồng bằng Nam Bộ được tái hiện tại triển lãm "Di sản văn hóa Phật giáo Đằng Trong" tại TP HCM.







Triển lãm "Di sản văn hóa Phật giáo Đằng Trong thế kỷ 17-20" được trưng bày tại Thư viện khoa học tổng hợp TP HCM với hơn 450 hiện vật như tượng thờ, kinh, sách, đồ sứ, hình ảnh chùa chiền, lăng mộ... Trong ảnh là các cổ vật tượng Hộ pháp bằng đá (thế kỷ 19), chuông đồng (thế kỷ 17), tượng Tiêu Diện bằng đồng (thế kỷ 19).

Triển lãm do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Giáo hội Phật giáo Việt Nam) và Viện Nghiên cứu tôn giáo (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đồng tổ chức. Trong ảnh là tượng Bồ tát Quan thế âm bằng đá thế kỷ 18, một trong những bảo vật Phật giáo quý hiếm. 

Tượng Hộ pháp bằng đồng thế kỷ 19. 

Giới đao thời vua Tự Đức. 

Như Ý Pháp Lam thời nhà Nguyễn, thế kỷ 19. 

Quạt thời nhà Nguyễn, thế kỷ 19. 

Phất Tử được làm từ đuôi ngựa trắng, thế kỷ 19. 

Đồ sứ thời chúa Nguyễn, thế kỷ 18. 

Ngoài các bảo vật, triển lãm còn giới thiệu các bản Kinh sách thời chúa Nguyễn. 

Ngoài ra, các bức tranh chùa chiền, lăng mộ của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, Trương Ngọc Tường... cũng được giới thiệu trong triển lãm. Trong ảnh là kiểu thức mộ táng khá đặc biệt ở Hương Hồ - Thừa Thiên Huế. 

Kiểu nấm mộ hình trứng ở Quảng Công (Quảng Điền, Thừa Thiên Huế). 

Kiểu nấm mộ hình trái đào ở Văn Quỳ (Hải Lăng, Quảng Trị). 

Theo Tá Lâm - VnExpress

Posted By Unknown05:53

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Lăng tẩm Huế: Một thành tựu rực rỡ của nền Kiến trúc cổ Việt Nam

[MCĐV] Ngoài sông Hương, Huế còn thu hút du khách với những công trình kiến trúc lăng tẩm vừa trang nghiêm vừa hùng vĩ, với vẻ đẹp "chẳng nơi nào nào có được".

Cách đây gần 80 năm, một người Tây Phương tên là Ph. Eberhard đã viết: "Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có Kinh thành, Hoàng thành và lăng tẩm, có một sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt của du khách và các nhà mỹ thuật. Chỉ riêng lăng tẩm các vua nhà Nguyễn không thôi cũng đã đủ có giá trị đối với cuộc du lịch rồi, theo ý kiến chung lăng tẩm Huế đẹp hơn lăng tẩm các vua nhà Minh ở Trung Quốc".

Mãi cho đến ngày nay, ý kiến chung của những nhà làm công tác văn hóa nghệ thuật trong nước và trên thế giới cũng khẳng định rằng lăng tẩm Huế là một thành tựu rực rỡ của nền kiến trúc cổ Việt Nam. Triều Nguyễn (1802-1945) có đến 13 vua,
nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau cho nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm. Đó là các lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức (ở đây còn có mộ vua Thành Thái, Duy Tân), Đồng Khánh và Khải Định. Theo ý đồ quy hoạch kiến trúc kinh đô nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX, 7 khu lăng ấy nằm trong một vùng đất khá riêng biệt ở phía Tây Huế, nhìn từ vị thế Trung ương của cố đô.

Lăng Gia Long

Lăng Gia Long hay còn gọi là Thiên Thọ Lăng được xây dựng từ năm 1814 đến năm 1820, nằm giữa quần núi Thiên Thọ gồm 42 đồi, núi lớn, nhỏ, thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đây là nơi yên nghỉ của vua Gia Long (1762 - 1820), vị vua đầu tiên trong số 13 đời vua nhà Nguyễn.

Lăng Vua Gia Long
Có hai hướng để bạn đến thăm lăng. Một là xuôi thuyên theo dòng sông Hương khoảng 18km rồi cập bến, hoặc đi theo đường bộ chừng 16km, xuống bến đò Kim Ngọc, đi thêm khoảng 2km nữa. Gió từ sông cùng bóng mát của những hàng thông, cây xanh mướt, tạo nên một không gian trong mát, tĩnh mịch cho quãng đường đi bộ từ bến đò vào lăng.


Lăng Gia Long có chu vi hơn 11 nghìn mét, trước mặt có núi Đại Thiên Thọ làm tiền án, hai bên tả hữu mỗi bên có 14 ngọn núi chầu vào tạo thành thế “tả thanh long” và “hữu bạch hổ”. Trong khuôn viên, trước mặt lăng có hồ bán nguyệt, sau hồ là sân chầu, tiếp đến là sân tế chia làm 6 bậc cao dần, cuối cùng là Bửu Thành, nơi đặt mộ phần của Vua và Hoàng hậu.

Thời khắc tham quan lăng đẹp nhất là vào buổi chiều, khi hoàng hôn lấp lánh trên các hồ nước, những tán lá thông đang khẽ đưa theo gió soi bóng xuống mặt hồ. Vẻ đẹp u tịch của thiên nhiên hòa với nét uy nghi của đồi núi, kiến trúc trong lăng khiến con người cảm thấy nhỏ bé, chơi vơi.

Lăng Minh Mạng

Cách trung tâm thành phố 12km, nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, lăng Minh Mạng hay còn gọi Hiếu Lăng là nơi yên nghỉ của vua Minh Mạng, vị vua thứ hai của nhà Nguyễn.

Lăng Minh Mạng rộng 26ha, là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm 40 công trình lớn nhỏ nằm trên một khu đồi núi, sông, hồ thoáng mát. Lăng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành.

Lăng Vua Minh Mạng
Trước lăng có 3 cửa, chính giữa là Đại Hồng Môn (chỉ mở một lần duy nhất khi rước di thể của vua Minh Mạng nhập lăng), hai bên là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn. Bên trong Đại Hồng Môn có sân chầu, hai bên có hai dãy tượng đá tạc hình bá quan văn võ và voi, ngựa đứng chầu.

Lăng Thiệu Trị

Lăng Thiệu Trị nằm dựa lưng vào núi Thuận Đạo, thuộc làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, cách thành phố Huế chừng 8 km. Đây là lăng có thời gian xây dựng ngắn nhất (hoàn tất trong 10 tháng) trong số 7 lăng của các vua Nguyễn và cũng là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc.

Lăng Vua Thiệu Trị
Lăng Thiệu Trị cũng không xây dựng La Thành (bức tường bao quanh bảo vệ) như lăng Gia Long hay dựa vào thế núi đồi tạo nên một la thành tự nhiên như Minh Mạng, La Thành của lăng là những đồng lúa, vườn cây xanh rờn, mang đến cho khu lăng vẻ thanh thoát, yên bình.

Lăng Tự Đức

Lăng Tự Đức hay Khiêm Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế. Lăng được xây dựng từ năm 1864 đến năm 1867 trên diện tích 475ha. Lăng Tự Đức mang yếu tố khoáng đạt, đường nét mềm mại phản ánh tâm hồn lãng mãn của vị vua thi sĩ này.


Ngoài mục đích là nơi chôn cất khi qua đời, đây còn là vua đến nghỉ ngơi, đọc sách, ngâm thơ… nên cảnh quan của lăng tựa như một công viên rộng lớn với tiếng nước chảy, hồ nước thơ mộng, hàng thông xanh ngát. Thậm chí ở đây còn xây dựng cả nhà hát và nơi ở của các phi tần mĩ nữ.


Tại lăng Tự Đức có tấm bia đá lớn khắc bài “Khiêm Cung kí” dài 4.935 chữ do vua Tự Đức soạn thảo để tự nói về cuộc đời, vương nghiệp cùng những lỗi lầm và sai phạm của mình.

Lăng Đồng Khánh

Lăng Ðồng Khánh thuộc thôn Thượng Hai, xã Thuỷ Xuân, TP. Huế. Được xây dựng qua 4 đời vua và kéo dài từ năm 1888 - năm 1923, lăng vừa mang lối kiến trúc phong kiến cổ điển vừa chịu ảnh hưởng của kiến trúc Tây Âu.

Cổng Lăng Vua Đồng Khánh
Sự phân tầng này thể hiện rõ ở khu tẩm điện với lối kiến trúc “Trùng Thiềm Điệp Ốc” (Nhà có nhiều bộ mái nối tiếp nhau). Chính điện và các nhà cửa phụ vẫn còn những hàng cột sơn son thếp vàng lộng lẫy với trang trí tứ linh, tứ qu,... Song trong Ðiện Ngưng Hy xuất hiện hệ thống cửa kính nhiều màu và những phù điêu bằng đất nung với các trang trí rất dân giã như “Ngư ông đắc lợi”, “Gà chọi”…

Lăng Dục Đức

Lăng Dục Đức, tên chữ là An Lăng, tọa lạc ở phường An Cựu, thành phố Huế. Lăng do vua Thành Thái cho xây dựng vào năm 1889. Lăng là nơi an tang các vua Dục Đức, vua Thành Thái và vua Duy Tân.



Lăng Dục Đức rộng khoảng 1ha, gồm khu lăng mộ và khu tẩm thờ đặt song song với nhau. Lăng quay mặt về phía tây bắc, lấy đồi Phước Quả làm tiền án, núi Tam Thai sau lưng làm hậu chẩm và dòng khe chảy vòng qua trước mặt làm minh đường tụ thủy.

Bên trong lăng không có Bi Đình hay tượng đá như các lăng vua khác, thay vào đó là kiểu nhà Huynh Ốc. Đáng chú ý là tấm bình phong trước mộ vua có chữ “song hỷ” nghĩa là “vui” đắp bằng sành sứ gây nhiều tò mò và thắc mắc cho các nhà sử học cũng như du khách.


Ngoài là nơi an nghỉ của 3 vị vua, lăng còn có hơn 39 tẩm mộ ông hoàng bà chúa cùng 121 ngôi mộ đất của những người thuộc Ðệ Tứ Chánh phái Nguyễn Phước tộc (hệ phái của vua Dục Ðức).

Lăng Khải Định

Trong số các lăng triều Nguyễn, lăng Khải Định hay còn gọi Ứng Lăng là công trình duy nhất có lối kiến trúc pha trộn giữa Đông và Tây. Đây là nơi yên nghỉ của vua Khải Định, vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng tọa lạc trên núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê), thuộc xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, cách thành phố Huế khoảng 10km về phía Tây Nam.

Lăng Vua Khải Định
Tuy có kích thước khiêm tốn hơn so với lăng của các vua tiền nhiệm nhưng lăng được xây dựng tỉ mỉ, kỳ công nên tốn nhiều thời gian cũng như kinh phí hơn các lăng khác (từ năm 1920 - 1930). Sử sách ghi lại để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng.

Bên trong điện thờ

Điểm nổi bật của lăng Khải Định là sự pha trộn giữa nhiều trường phái kiến trúc khác nhau như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique… Đặc biệt, lăng Khải Định nổi tiếng với 3 bức bích họa “cửu long ẩn vân” tuyệt đẹp được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định.

Nhiều thể hiện trên di tích tại chỗ cho thấy vua là đấng chí tôn được biểu trưng bằng hình ảnh mặt trời cao cả. Và hình ảnh mặt trời lặn biểu thị khái niệm vua băng hà. Khi đã băng hà, vua cùng mặt trời đi về phía tây để an giấc ngàn thu nơi vùng núi đồi tĩnh mịch. ở góc trời yên ả đó có dòng sông Hương êm đềm thơ mộng chảy qua. 

Theo quan niệm “tức vị trí lăng” phần lớn các lăng tẩm đều được xây dựng khi nhà vua còn ở trên ngai vàng. Hầu hết nhân lực, vật liệu nhà nước và năng lực của chính nhà vua nữa, đều được đổ ra trong nhiều năm để thực hiện. Chủ đề tư tưởng nghệ thuật do nhà vua đưa ra, đồ án kiến trúc do vua duyệt và chính nhà vua cũng thường đi giám sát thi công.

Điều mà các nhà kiến trúc dưới thời nhà Nguyễn phải tuân thủ triệt để trước tiên là nguyên tắc phong thủy. Lăng tẩm nào cũng phải theo đúng những quy luật liên quan đến các thực thể địa lý thiên nhiên: sông núi, ao hồ, khe suối, và nhất là “huyền cung” ở trung tâm điểm của mặt bằng kiến trúc phải tọa đúng long mạch. 

Đi tham quan nghiên cứu lăng tẩm Huế, bạn không nên chỉ chú mục vào các công trình kiến trúc gần gũi trước mắt trong phạm vi vòng la thành diện tích hơn chục ha, mà phải phóng tầm mắt ra xa cả chục km để thấy hết các thực thể địa lý thiên nhiên gắn liền với nó và thưởng thức được vẻ hoành tráng của cả tổng thể rộng hàng trăm, hàng nghìn ha mà lăng tẩm có ảnh hưởng về mặt nghệ thuật. Ít ai nghĩ rằng ngọn núi Gia Long rộng tới 2,875 ha và có đến 42 ngọn núi chầu vào trung tâm điểm là mộ địa.

Vùng lăng Thiệu Trị rộng 475 ha, có ngọn núi đứng làm tiền án cách xa lăng đến 8km. Trước mặt lăng Khải Định là dòng Khe Châu Ê chảy khuất khúc từ trái sang phải rồi lại rẽ lại theo thế “chi huyền thủy”, và hai bên là dãy núi Chóp Vung và Kim Sơn nằm trong tư thế rồng chầu hổ phục. 

Trong quyển “Mỹ thuật Viễn Đông” Jeannine Auboyer nhận xét rằng: Người Việt Nam đã biết lựa chọn những khung cảnh thiên nhiên xinh đẹp nhất để xây dựng những công trình kiến trúc thờ phụng của mình. Điều này được chứng thực rõ ràng nhất qua nghệ thuật kiến trúc lăng tẩm Huế. Nơi đây công trình kiến trúc nào cũng nằm trên một ngọn đồi cỏ non dưới rừng thông yên ả, ẩn mình sau nhưng cây đại thụ cành lá sum suê hay soi mình xuống mặt hồ trong xanh phẳng lặng. Và toàn cảnh bao phủ một màu xanh tươi mát chan hòa.

Năm 1918, Phạm Quỳnh đã nhận xét trên tạp chí Nam phong: “Lăng đây là gồm cả một màu giời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gió thổi, ngọn cây, suối reo hang đá... Lăng đây là bức cảnh thiên nhiên tuyệt khéo. Lăng đây là cái nhân tô điểm cho sơn thủy... không biết lấy nhời gì mà tả được cái cảm lạ, cái êm đềm vô cùng... Không đâu cái công dựng đặt của người ta với cái vẻ thiên nhiên của giời đất khéo điều hòa nhau bằng ở đây, cung điện đình tạ cũng một màu, một sắc như núi non, cây cỏ...”. 

Kiến trúc cổ Việt Nam nói chung là kiến trúc phong cảnh, còn gọi là kiến trúc cảnh vật hóa (architecure paysagée). Nghệ thuật kiến trúc này đã đạt đỉnh cao ở lăng tẩm Huế. Vào năm 1981, sau khi đến thăm Huế, ông Tổng Giám đốc UNESSCO Amadou-M’Bow đã viết: "Lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn... biểu hiện những biến tấu độc đáo trên một chủ đề thống nhất.

Mỗi một lăng vua với đặc tính riêng của nó là một thành tựu tuyệt mỹ của nền kiến trúc cảnh vật hóa, và mỗi lăng tẩm khơi dậy trong cảm xúc khách quan một âm vang đặc biệt. Lăng Gia Long giữa một khu vực thiên nhiên bao la, gợi lên một ấn tượng hùng tráng và thanh thản, lăng Minh Mạng đầy vẻ trang nghiêm và lăng Tự Đức đem đến cho du khách một hồn êm thơ mộng".

Gần đây, một nhà bình bút của ủy ban UNESSCO thuộc trung tâm văn hóa á châu đã nhận định một cách vắn tắt nhưng rất thâm uyên và chính xác về triết lý trong kiến trúc lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn như sau: “Với cảnh thiên nhiên chóng qua trên dương thế, các lăng tẩm uy nghi đã được xây dựng để làm chốn thiên đường vĩnh cửu mai sau”. Kiến trúc lăng tẩm Huế có ngôn ngữ riêng biệt và ý nghĩa sâu xa của nó. 

Có hiểu thấu thì mới giải thích được tại sao ở chốn âm phần lại có cả hệ thống cung điện để ăn chơi hưởng thụ, có cả nhà hát để thưởng thức nghệ thuật sân khấu và sắc đẹp giai nhân, mới lý giải được tại sao phần nội cung Thiên Định ở lăng Khải Định giống như một viện bảo tàng mỹ thuật trông vui mắt, và mới biết được tại sao khắp các lăng tẩm đều trang trí rất nhiều hoa văn chữ “thọ” (nghĩa là sống lâu) và chữ “hỷ” (nghĩa là vui mừng).

Vào thăm lăng tẩm Huế, người ta không hề gặp những hình ảnh gây ấn tượng chết chóc, sợ hãi, lạnh lùng như vào viếng “Minh thập tam lăng” ở Trung Quốc, người ta cũng không cảm thấy mình trở nên nhỏ bé, bị áp lực nặng nề, và bị “dọa nạt” như khi đứng trước những Kim Tự Tháp quá đồ sộ của các Hoàng đế Ai Cập. Trong lăng tẩm Huế, con người vẫn là chủ để của kiến trúc và thiên nhiên. ở đây, người ta bắt gặp những hình ảnh quen thuộc gần gũi, có được cảm giác lâng lâng thích thú giữa thực và mộng.

----------------------------------------------
Lăng tẩm Huế - kỳ quan nghệ thuật kiến trúc Việt

“Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được/ Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư”. Đúng là hiếm một nơi nào lại có vẻ đẹp trữ tình như xứ Huế - một thành phố có hai di sản thế giới - với những thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền đài, chùa miếu cổ kính kết hợp hài hoà với không gian cảnh quan sông núi thơ mộng và phong tục tập quán, vốn văn hoá truyền thống của người dân đất cố đô.

Chính vì vậy, chúng tôi - những hướng dẫn viên du lịch - đã có nhiều lần đưa du khách tới thành phố này, vẫn chọn Huế là điểm đến dài ngày nhất trong hành trình dọc theo các di sản miền Trung để trau dồi thêm kiến thức thực tế cho nghề nghiệp.

Trong những ngày ngang dọc mảnh đất thần kinh xưa, khác với những lần trước chỉ tập trung vào các cung điện, đền chùa, thành quách... lần này, những lăng tẩm cổ kính và thâm nghiêm của nhà Nguyễn đã làm mê hoặc chúng tôi. Có dành nhiều thời gian trải nghiệm và thu lượm, chúng tôi mới hiểu tại sao những công trình này lại được coi là một thành tựu rực rỡ của nền kiến trúc cổ VN. 

Triều Nguyễn có đến 13 vua, nhưng hiện ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm cho 9 vị vua. Đó là các lăng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Dục Đức, Khải Định. Một điều đặc biệt là hầu hết các lăng tẩm được xây khi các vị vua đang còn trên ngai vàng. Có thể thấy, mỗi lăng là một công trình kiến trúc thể hiện tiêu biểu cho tính cách của mỗi ông vua có lăng. Nhưng có lẽ, hai khu lăng tiêu biểu nhất là lăng Tự Đức và lăng Khải Định.

Lăng Tự Đức nằm trong một thung lũng, cách trung tâm TP.Huế 5km – được xây dựng trong thời gian từ 1864 - 1867 với kiến trúc cầu kỳ, uốn lượn, phong cảnh sơn thủy hữu tình đúng như tính cách của một ông vua thi sĩ. Tự Đức – hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn - đã xây lăng mộ cho mình ngay khi còn sống. Đây có thể coi là hành cung thứ hai của Vua Tự Đức.

Theo nhiều tài liệu và lời kể của người dân địa phương, lúc mới xây, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn “chày vôi” của những người thợ xây lăng, bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng.

Lăng như một công viên lớn, gồm hai phần chạy song song với nhau là tẩm điện và lăng mộ với gần 50 công trình kiến trúc đều có chữ khiêm ở đầu. Nhưng có lẽ, đáng chú ý trong tẩm điện là điện Hoà Khiêm - nơi thờ hoàng đế và hoàng hậu, hiện còn chứa nhiều đồ ngự dụng và các tác phẩm mỹ thuật đương thời.

Trong khu lăng mộ, chúng tôi ấn tượng nhất là Bi Đình bên những cây đại cổ thụ với tấm bia bằng đá nặng 20 tấn có khắc bài “Khiêm Cung ký” do Tự Đức soạn, dài 4.935 chữ, là bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, sự nghiệp. Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc toả sáng.

Chia tay lăng Tự Đức - một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình theo quan niệm phương Đông. Chúng tôi đến thăm khu lăng Khải Định - một công trình công phu, lộng lẫy, tinh xảo với sự kết hợp của hai nền kiến trúc, văn hoá Đông – Tây thể hiện buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Vua Khải Định. Từ khi lên ngôi, ông đã say sưa với việc xây lăng mộ cho mình. Khải Định trị vì được 9 năm thì băng hà (1925), thọ 40 tuổi.

Lăng Khải Định cách TP.Huế 10km, được xây suốt từ năm 1920-1931 – là lăng xây tốn kém nhất trong các lăng của Huế với rất nhiều vật liệu nhập ngoại. Tổng thể của lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc và được chia ra thành 3 cấp.

Qua 3 lớp nền, chúng tôi đến với công trình tiêu biểu nhất là cung Thiên Định – công trình ở vị trí cao nhất của lăng và được xây rất tinh xảo. Toàn bộ nội thất đều được trang trí bằng nghệ thuật ghép sành sứ đạt tới đỉnh cao với những môtíp hết sức quen thuộc như: Tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc... Còn dưới nền lát gạch men hoa và trên trần vẽ cửu long ẩn hiện trong mây. Cả không gian 6 mặt đã tạo nên một thế giới nghệ thuật đặc sắc cho di tích này.

Qua chuyến đi thú vị này, chúng tôi thấy lăng Tự Đức và lăng Khải Định thực sự là những công trình có giá trị nghệ thuật và kiến trúc tiêu biểu. Nó không chỉ làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ở Huế mà còn góp những giá trị không nhỏ cùng với các danh lam thắng cảnh, nét văn hoá độc đáo của cố đô Huế, biến nơi đây thành một miền đất đầy quyến rũ và lôi cuốn du khách trong và ngoài nước.

Theo Hồng Nguyên - Lao động
----------------------------------------------
Quý Hải Sưu tầm & tổng hợp
Nguồn tổng hợp:
[2] Vẻ đẹp kiến trúc lăng tẩm ở Huế - Theo Bưu điện Việt Nam/cacdongho.vn

Posted By Unknown20:28